Ngày đăng

Chủ động phòng chống dịch bệnh mùa hè

Chủ động phòng chống dịch bệnh mùa hè

     Do đặc điểm thời tiết khí hậu ở nước ta, từ xuân sang hè, nhiều bệnh dịch phát triển ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của cộng đồng. Để làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh, chúng ta cần tích cực và chủ động hơn nữa trong công tác phòng, chống các dịch bệnh mùa hè như: thực hiện tiêm chủng đối với những bệnh có vacxin như sởi, thủy đậu, viêm não vi rút.. Ngoài ra, đối với các bệnh không có vacxin cần tăng cường giữ vệ sinh như ăn chín uống chín, khơi thông cống rãnh, diệt muỗi, nhà cửa thông thoáng … Một số bệnh truyền nhiễm cần biết khi thời tiết sang hè:

     1. Bệnh sởi: Bệnh do Virut sởi gây ra, không có thuốc điều trị đặc hiệu, lây qua đường hô hấp.
Phòng bệnh: tiêm vacxin, cách ly khi bị bệnh và vệ sinh răng miệng, mũi họng phòng biến chứng.

    2. Bệnh tay chân miệng cũng bắt đầu vào mùa. Theo báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội, trong 5 tháng đầu năm nay, một số dịch bệnh đang có số mắc cao hơn so với cùng kỳ năm 2014. Cụ thể, bệnh tay chân miệng ghi nhận 549 ca mắc (tăng 91%). Bệnh do virut gây ra, chưa có vắc-xin phòng, là bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa. Không có miễn dịch chéo (nghĩa là có thể bị lại vì nhiễm virut khác cùng nhóm).
Phòng bệnh: rửa tay sạch trước khi ăn, cách ly khi bị bệnh và vệ sinh răng miệng, mũi họng phòng biến chứng.

   3. Bệnh viêm não do virus: bệnh viêm não virus ghi nhận 9 trường hợp, trong khi cùng kỳ năm 2014 không có trường hợp mắc. Bệnh viêm não virus thường gia tăng vào mùa hè.

   Bệnh viêm não Nhật Bản: Là bệnh do virus gây nên, trung gian truyền bệnh là muỗi Culex, một loại muỗi thường sống ở các vùng có nhiều ao tù và đồng ruộng lúa nước. Ổ chứa virus viêm não Nhật Bản thường là lợn, dơi, chim hoang dã. Bệnh viêm não Nhật Bản thường có tỷ lệ mắc cao vào mùa hè, có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng suốt đời và có thể gây thành dịch lớn. Phòng bệnh bằng cách: Tiêm vacxin, thường chỉ tiêm cho trẻ em. Khi mắc bệnh phải nhập viện sớm.

    4. Bệnh thủy đậu: Trung bình hàng năm ở nước ta có khoảng 30-40 nghìn trường hợp mắc, bệnh thường nhẹ và hầu như không có tử vong. Thủy đậu là bệnh truyền nhiễm do Virut. Bệnh lây theo đường hô hấp nên dễ thành dịch.
Phòng bệnh bằng tiêm vắc-xin, cách ly khi bị bệnh, hạn chế vận động và vệ sinh răng miệng, mũi họng phòng biến chứng

   5. Bệnh SXH: Riêng Hà Nội từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố đã ghi nhận 83 ca mắc (tăng 60%) mắc bệnh SXH tại 14 quận, huyện; Bệnh do virut Dengue gây nên qua trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes egypty. Bệnh chưa có vacxin phòng bệnh (đang nghiên cứu).
Phòng bệnh hiện nay là nằm màn, diệt muỗi, khơi thông cống rãnh và nước đọng, khi bị sốt quá 3 ngày nên uống nhiều nước và khám ở các cơ sở y tế.

   6. Bệnh cúm A: Cũng là bệnh hô hấp cấp tính và có tính rất nguy hiểm do virus cúm A (H5N1) gây ra, virus này chủ yếu gây bệnh trên gia cầm, các động vật máu nóng và trên người. Triệu chứng của bệnh về cơ bản cũng giống như cúm A (H1N1), tức là: Ho, sốt, hắt hơi, sổ mũi, mệt mỏi, nhiễm trùng đường hô hấp dưới, diễn biến nhanh và gây tử vong rất nhanh. Bệnh ở người chủ yếu là do lây trực tiếp từ gia cầm bệnh, ốm chết khi tiếp xúc hoặc giết mổ, ăn thịt.
Phòng bệnh không ăn thịt và giết mổ gia cầm bị bệnh, khi bị bệnh cần đến các cơ sở y tế để theo dõi và điều trị.

   7. Bệnh tiêu chảy cấp: Có thể là tiêu chảy thường hoặc tiêu chảy cấp nguy hiểm do phẩy khuẩn tả, kiết lỵ, thương hàn. Tiêu chảy thường do bị nhiễm virus, hoặc các loại vi khuẩn thông thường, bệnh chứng thường nhẹ hơn và ít gây thành dịch lớn so với tiêu chảy do phẩy khuẩn tả (còn gọi là dịch tả). Bệnh tả là bệnh tối nguy hiểm có thể gây tử vong cao. Mùa hè ở nước ta có khí hậu nóng ẩm nên các loại vi khuẩn dễ phát triển trong thực phẩm, thức ăn, làm cho thức ăn nhanh bị hỏng, bị ôi, thiu, là nguyên nhân gây nên nhiều trường hợp bị tiêu chảy. Mặt khác, sau những ngày mưa bão, lũ lụt thì các vi khuẩn càng có điều kiện sinh sôi, phát tán trong môi trường đất, nước, thực phẩm, làm cho số người mắc tiêu chảy càng tăng cao.

   Ðể tránh không bị tiêu chảy hoặc tả, lỵ thương hàn, chúng ta cần: Tăng cường vệ sinh cá nhân. Bảo vệ nguồn nước và dùng nước sạch. Bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, ăn chín, uống chín.

   8. Rubella là bệnh do virus gây ra. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi. Rubella lây qua đường hô hấp, lây lan do tiếp xúc với chất tiết qua đường mũi họng của bệnh nhân. Bệnh được lây truyền bởi các hạt nước bọt khi hắt hơi, sổ mũi,… khuếch tán rộng trong không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân. Bệnh biểu hiện bằng sốt nhẹ 1-2 ngày, đau mỏi người và phát ban dạng sởi

   Đôi khi người bị nhiễm Rubella có biểu hiện nhẹ không điển hình hoặc không có triệu chứng gì. Tuy nhiên đây là những người lành mang virus, là nguồn lây bệnh quan trọng, làm cho dịch phát tán và lan rộng nhanh chóng.

   Rubella là bệnh lành tính, nhưng tác hại của nó đối với phụ nữ, nhất là phụ nữ có thai. Nếu phụ nữ mang thai mắc bệnh Rubella sẽ có nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, gây sảy thai, sinh non, dị tật bẩm sinh như các bệnh tim bẩm sinh, bệnh đầu nhỏ, đục thuỷ tinh thể, điếc, chậm phát triển tâm thần,….

   Bệnh Rubella chưa có thuốc điều trị, cách tốt nhất là tiêm vắc-xin để phòng bệnh, hiên có loại vacxin 3 trong 1: Sởi-Quai bị-Rubella (trong 1 mũi tiêm).       .

   Bệnh Rubella có thể phòng ngừa hữu hiệu bằng việc cách ly, giữ vệ sinh cá nhân và môi trường xung quanh.

Ngày đăng

10 loại rau quả giàu Vitamin C hơn cam

10 loại rau quả giàu Vitamin C hơn cam

Khi nói đến Vitamin C, hầu hết mọi người đều chỉ nghĩ tới cam. Tuy nhiên, 10 loại trái cây dưới đây còn giàu loại vitamin thiết yếu này hơn cam.

10 loại trái cây giàu Vitamin C hơn cam

Vitamin C rất cần thiết cho việc hình thành và duy trì các mô, dây chằng, mạch máu và sụn trong cơ thể. Nó còn là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất các kích thích tố như ATP, dopamine, hormone peptide, tyrosine. Đây cũng là chất chống ôxy hóa mạnh mẽ, bảo vệ cơ thể chống lại các vấn đề gây ra bởi các gốc tự do, từ việc lão hóa da đến căn bệnh ung thư chết người.

Nhu cầu Vitamin C hằng ngày là 90 mg cho nam giới và 75 mg cho phụ nữ. Một quả cam chứa khoảng 70 mg Vitamin C. Nhưng thật không may, Vitamin C tan trong nước nên cơ thể bạn không thể lưu giữ nó. Do đó, việc bổ sung Vitamin C phải thường xuyên, điều độ thì mới có hiệu quả.

Ổi

10 loại trái cây giàu Vitamin C hơn cam

Một quả ổi chứa 377 mg Vitamin C, gấp 4 lần lượng Vitamin C bạn cần sử dụng nếu là đàn ông và 5 lần đối với phụ nữ.

Đu đủ

Nửa quả đu đủ lớn chứa 238 mg VitaminC. Đu đủ còn là nguồn chất xơ và Vitamin A phong phú.

Ớt

Nửa quả ớt đỏ chứa khoảng 108 mg Vitamin C. Ớt còn chứa một hợp chất có tên capsaicin, giúp giảm đau khớp.
Ớt chuông 

Hay còn gọi là ớt ngọt. Theo đó những loại rau màu sáng thường chứa ít calo và giàu vitamin. Nửa quả ớt vàng chứa 155 mg Vitamin C, nhiều hơn so với nhu cầu hằng ngày của bạn. Tương tự, một quả ớt chuông đỏ chứa 190 mg Vitamin C.

Súp lơ

Một bông súp lơ trắng nhỏ chứa khoảng 128 mg Vitamin C. Tuy ăn 2 quả cam dễ dàng hơn so với việc tiêu thụ một bông súp lơ nhưng hãy cố gắng bổ sung loài rau họ cải này vào chế độ ăn uống của bạn do chứa nhiều vi chất tốt cho cơ thể. Tương tự, một bông cải xanh chứa khoáng 82 mg chất dinh dưỡng này.

Kiwi

Một quả kiwi chứa 167 mg Vitamin C. Kiwi cũng giàu chất xơ, kali, magie, kẽm, folate và Vitamin K.

Xoài

Một quả xoài chứa 122 mg Vitamin C. Ngoài ra, xoài là loại quả giàu chất xơ và Vitamin A.

Cải xoăn

10 loại trái cây giàu Vitamin C hơn cam

Cải xoăn dường như chứa đủ mọi chất dinh dưỡng mà một loại rau có thể có: Đầy ắp vitamin K, A và C, đồng thời còn chứa canxi và sắt. Một chén cải xoăn cắt nhỏ chứa hơn 80 mg Vitamin C. Do đó, hãy thêm nó vào salad và các món ăn của bạn ngay từ hôm nay.

Dứa (trái Thơm)

Quả dứa chứa khoảng 80 mg Vitamin C, nhiều hơn trong một quả cam.

Dâu tây

10 loại trái cây giàu Vitamin C hơn cam

Dâu tây chứa lượng Vitamin C tương đương một quả cam. 100 g dâu tây sẽ mang lại 98 mg vitamin C với chỉ 53 đơn vị calo. Dâu tây còn là quả giàu chất anthocyanins – giúp đốt cháy chất béo trong cơ thể.

Ngày đăng

 Stress

 Stress

   Nhiều bệnh nhân trung niên vào viện than phiền với bác sĩ vì mệt mỏi hoặc căng thẳng. Qua thăm khám lâm sàng và các thăm dò cận lâm sàng, bác sĩ không phát hiện thấy một tình trạng bệnh lý thực tổn nào ở họ.


Xây dựng môi trường gia đình, bạn bè, đồng nghiệp hướng tới cuộc sống lành mạnh, khoa học, nhân văn… Trong đó, phải lưu ý rằng nhiều biện pháp phòng chữa bệnh không có cơ sở khoa học, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe đã, đang được lan truyền trong bạn bè, gia đình theo niềm tin một cách mù quáng.

   Sau khi trao đổi, bác sĩ thấy bệnh nhân thường là những người năng động, công việc bận rộn hay phải tiếp khách, có nhiều mối quan hệ…, họ thường không có thời gian biểu cố định, có thói quen hút thuốc lá, uống cà phê nhiều lần trong ngày, đặc biệt đôi khi còn dùng những “thực phẩm đặc biệt” theo lời khuyên của bạn bè nhằm nâng cao thể trạng, duy trì tinh thân tỉnh táo khi làm việc. Trong những trường hợp này, bác sĩ thường khuyên họ hãy thay đổi để có lối sống để phù hợp hơn, mà không cần dùng bất cứ một “thực phẩm đặc biệt” nào. Và phần lớn họ đã có một cuộc sống cần bằng và khỏe mạnh hơn. Sau đây là một số lời khuyên của bác sĩ dành cho họ:

  1. Sắp xếp thời gian biểu hợp lý

  2. Tránh căng thẳng trong giao tiếp

  3. Đi ngủ sớm: tránh xem ti vi, đọc sách quá muộn; dậy sớm vào một giờ nhất định để có thể tập thể dục, vệ sinh cá nhân, ăn sáng, đọc tin tức, phác họa công viêc phải làm trong ngày

  4. Tập thói quen đi vệ sinh vào một giờ nhất định buổi sáng trước khi ra khỏi nhà: có thể phòng ngừa bệnh táo bón, trĩ, hay nhiễm khuẩn liên quan đến nhà vệ sinh nơi công cộng

  5. Lựa chọn cung đường và thời gian phù hợp để tới nơi làm việc để tránh bị tắc đường, tai nạn hoặc những căng thăng không cần thiết

  6. Ăn nhiều hơn và đủ dinh dưỡng vào bữa sáng, bữa trưa, tránh ăn quá no vào bữa tối. Chế độ ăn cân đối giữa rau xanh, thịt và tinh bột. Không ăn quá cay và quá mặn, không ăn nhiều thức ăn chiên đi chiên lại, không nên ăn nhiều mỡ, nội tạng động vật, nhiều thịt đỏ, tập thói quen ăn cá

  7. Uống nhiều nước, ít nhất 2 lít nước mỗi ngày, cho dù có khát hay không

  8. Không nên uống cà phê quá nhiều lần mỗi ngày. Chỉ nên uống một lần vào buổi sáng.

  9. Hạn chế lạm dụng rượu bia, có thể uống một ly rượu vang vào buổi tối

  10. Tập thói quen rửa tay bằng xà phòng kỹ sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn

  11. Lựa chọn các biện pháp tình dục an toàn, điều độ

  12. Lựa chọn một môn thể dục, thể thao phù hợp: đi bộ, chạy, tập gym, bơi, cầu lông, tennis, golf… Khi chơi cần phải khởi động đúng cách trước để tránh chấn thương, lưu ý nên uống nhiều nước khoáng, không nên uống rượu bia khi và sau khi chơi thể thao

  13. Cần bố trí nhà ở, phòng ngủ ở vị trí thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, tránh tiếng ồn, khói bụi, tránh ẩm thấp

  14. Tìm hiểu và bổ sung kiến thức khoa học về các biện pháp bảo vệ và tăng cường sức khỏe

  15. Khám sức khỏe và tư vấn bác sĩ 6 tháng một lần

  16. Cần đến bệnh viện càng sớm càng tốt khi có những biểu hiện cấp tính không nên tự ý dùng thuốc và các biện pháp can thiệp tự phát không có ý kiến của bác sĩ

  17. Xây dựng môi trường gia đình, bạn bè, đồng nghiệp hướng tới cuộc sống lành mạnh, khoa học, nhân văn… Trong đó, phải lưu ý rằng nhiều biện pháp phòng chữa bệnh không có cơ sở khoa học, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe đã, đang được lan truyền trong bạn bè, gia đình theo niềm tin một cách mù quáng.

Ngày đăng

CHỐNG ĐAU LƯNG

CHỐNG ĐAU LƯNG

    Đặc điểm nghề nghiệp của những người làm công việc văn phòng là phải ngồi trong thời gian dài và làm việc thường xuyên với máy tính. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng đau mỏi lưng, mệt mỏi, căng thẳng. Nếu để tình trạng này kéo dài nó có thể ảnh hưởng tới cơ bắp, khớp xương, dây chằng, gân và dây thần kinh. Vì vậy để giảm bớt những cơn đau lưng, hàng ngày bạn hãy thử một vài mẹo nhỏ dưới đây, bạn sẽ làm việc hiệu quả và thoải mái hơn.

Nguyên nhân gây ra chứng đau lưng, đau cổ, mỏi gáy ở dân văn phòng

   – Tư thế bất thường: Bao gồm các tư thế ngồi sai. Một tư thế sai ví dụ như ngồi thõng vai xuống sẽ làm còng lưng, dẫn đến mệt mỏi và tổn thương cơ bắp.

   – Căng cơ lặp đi lặp lại: Lặp lại những chuyển động nhất định, đặc biệt cứ ngồi sai tư thế lâu dài sẽ khiến các cơ bắp bị chấn thương, căng cơ quá mức dẫn đến mệt mỏi và đau lưng.

   – Ít vận động: Lối sống ít vận động hoặc làm những việc không liên quan nhiều đến hoạt động thể chất cũng là nguyên nhân tăng nguy cơ đau lưng. Bởi, không tập thể dục sẽ làm cho cơ bắp thiếu linh hoạt (hạn chế về khả năng chuyển động của lưng, uốn cong, và xoay), cơ lưng bị yếu (tăng “gánh nặng” trên cột sống) và cơ bụng yếu (làm tăng căng cơ ở lưng).

1. Hãy ngồi máy tính đúng tư thế

   Tùy theo vóc dáng của người, bạn cần điều chỉnh chiều cao của ghế sao cho phù hợp với tư thế “chuẩn” để tránh các vấn đề liên quan đến mắt và cột sống.

   Tư thế tay: Luôn giữ cánh tay vuông góc tại khuỷu tay khi bạn đánh máy hoặc làm các thao tác khác trên bàn phím hoặc chuột máy tính.

   Tránh tì đè bàn tay lên bàn phím hoặc chuột đồng thời không dùng quá nhiều lực để gõ hoặc nhấn chuột.

2. Sử dụng bàn phím ngoài cho máy tính xách tay

   Ngày nay dân văn phòng đại đa số đều làm việc trên máy tính và bạn thường xuyên cảm thấy hoa mắt, chóng mặt, đau lưng… Khi bạn thường xuyên phải sử dụng máy tính xách tay, việc sử dụng bàn phím rời là một giải pháp để bạn có thể duy trì vị trí cổ tay, giúp bạn bớt những cơn đau lưng. Với bàn phím ngoài cánh tay của bạn được thoải mái hơn. Vị trí để bàn phím hướng về phía trước, hướng gần về ghế ngồi giúp tay bạn được nghỉ ngơi trên bàn làm việc.

Ngoài ra để giữ thẳng cổ tay khi gõ bàn phím, bạn cần chú ý:
  – Điều chỉnh chiều cao ghế của bạn, điều này sẽ giúp cánh tay của bạn dựa hoàn toàn trên tay vịn.
   – Điều chỉnh khoảng cách mà bạn cảm thấy thoải mái nhất với chiếc máy tính: di chuyển màn hình tới gần mắt hơn, cho chữ to hơn…
– Thường xuyên sử dụng phím tắt: Dân văn phòng rất quen thuộc với 2 tổ hợp phím tắt là Ctrl + C (để copy) hoặc Ctrl +V (để paste). Tuy nhiên, đừng chỉ dùng 2 tổ hợp phím tắt này mà nên dùng các tổ hợp phím tắt khác. Điều này giúp cổ tay bạn di chuyển liên tục mà ít sử dụng chuột hơn, đồng thời công việc cũng diễn ra nhanh hơn.3. Hãy để cho đôi mắt được nghỉ ngơiViệc tập trung quá cao độ vào màn hình sẽ làm cho mắt bạn nhanh chóng mờ và dần giảm thị lực. Chính vì vây, bạn cần có thời gian nghĩ ngơi hợp lý cho mắt.

  Cụ thể trong khoảng thời gian 30 – 45 phút, bạn nên có những hành động để thư giản mắt như:
– Nhìn thẳng, sau đó nhìn phải, trái, nhìn lên trên, nhìn xuống dưới cũng 10 giây.
– Nhắm mắt và lấy hai tay xoa nhãn cầu (10 giây).
– Nheo mắt lại rồi mở mắt nhanh hơn trong 10 giây.

  Lưu ý: Bạn nên chỉnh cường độ sáng màn hình sao cho mắt có cảm giác dễ chịu tránh để cường độ ánh sáng quá cao.

4. Thực hiện các thao tác thể dục đơn giản trong thời gian làm việc

bai-tap-the-duc-don-gian-danh-cho-dan-van-phong

5. Chế độ ăn

  Chế độ ăn của chúng ta ảnh hưởng tình trạng khỏe mạnh của cơ thể và tinh thần. Các nhân viên công sở nên chọn chức ăn có chỉ số đường huyết (Glycemic Index – GI) thấp bởi vì các thức ăn có chỉ số GI cao có thể khiến chỉ số đường huyết của bạn không ổn định, và có thế làm cho bạn dễ cáu kỉnh và mệt mỏi.

  Những thực phẩm nhân viên văn phòng nên ăn:

  – Rau, hoa quả và ngũ cốc.

  – Khi tâm trạng không vui, hãy dùng một chút tiêu ớt. Gia vị này có chất kích thích có thể làm bạn vui lên.

  – Nếu bạn muốn giảm căng thẳng, hãy dùng những thực phẩm chứa Canxi và Magiê như hạt hướng dương, tảo bẹ, đậu và bông cải xanh.

  – Nếu lúc nào bạn cũng mệt mỏi, bạn cần bổ sung thêm Vitamin B1. Một số thực phẩm nên dùng là gan lợn rán, tỏi dầm giấm hoặc hành rán.

6. Sử dụng phần mềm nhắc nhở giải lao

  Nếu bạn không thể chủ động được thời gian thể dục hoặc giải lao cho mắt cũng như cơ thể, bạn có thể sử dụng các phần mềm nhắc nhở giải lao.

  Với phần mềm này, bạn có thể định sẵn khoảng thời gian cụ thể (30, 45, 60, 1g30p) khi đó phần mềm sẽ hiện thị thông báo lên màn hình. Và đó chính là lúc bạn nên thực hiện vài thao tác thể dục, giải lao cho đôi mắt hoặc những việc khác có thể giúp bạn thư giản.

  Việc sử dụng và làm việc trên máy tính quá lâu có ảnh hưởng rất lớn đối với sức khỏe của bạn về sau vì vậy khi làm việc với máy tính, bạn cần có được những khoảng thời giản nghỉ ngơi, thể dục hợp lý. Hành động này không những có thể giúp sức khỏe bạn được tốt hơn mà còn làm tăng hiệu quả công việc của bạn.

Ngày đăng

7 cách đơn giản phòng ngừa ung thư

Trong buổi nói chuyện thú vị về nội dung Cùng nhau làm nhẹ gánh ung thư, GS-BS. Nguyễn Chấn Hùng cho biết, từ năm 2010, theo Hiệp hội Quốc tế chống ung thư (UICC), có đến 40% số người mắc ung thư có thể phòng ngừa được.

Vậy đâu là những cách phòng căn bệnh vốn được cho là “trời kêu” này?

1. Ăn uống lành mạnh

Rau quả nên chiếm phân nửa hoặc hai phần ba bữa ăn vì thực phẩm có nguồn gốc thực vật ít chất béo, giàu chất xơ và nhiều chất kháng ung thư. Chất xơ là chất mà cơ thể không tiêu hóa được nên giúp “cuốn theo” các chất gây ung thư ra ngoài, giúp hệ tiêu hóa sạch sẽ.

Thịt cũng cần thiết cho cơ thể nhưng dùng nhiều thì không tốt vì loại thực phẩm này chứa nhiều chất béo gây ung thư, khi chế biến quá nóng, quá cháy còn tạo thêm chất sinh ung thư.

Người Việt chúng ta có rất nhiều loại dưa mắm, tưởng chừng vô hại nhưng lại là nguyên nhân gây ung thư. Vì trong thực phẩm ướp muối, thường có một lượng nhỏ nitrosamin và các hợp chất N-Nitroso khác dưới dạng nitrit và nitrat, ăn thường xuyên có thể mắc ung thư thực quản, dạ dày.

Chính vì vậy, không nên ăn quá hai bữa dưa, mắm mặn mỗi tuần để phòng tránh chất độc từ loại thực phẩm này.

2. Vận động mỗi ngày để giữ cân nặng

Vận động mỗi ngày, giữ gìn vóc dáng là cách phòng ngừa bệnh ung thư và nhiều bệnh mãn tính khác như tim mạch và tiểu đường. Thừa cân, béo phì là nguy cơ của nhiều loại ung thư do cơ thể sản xuất nhiều estrogen và insulin hơn, các hormone này kích hoạt ung thư.

Tập thể dục đều đặn mỗi ngày giúp giảm thừa cân và điều hòa hormone. Theo BS. Chấn Hùng, việc luyện tập không cần cầu kỳ, chỉ cần đi bộ, làm vườn, chăm sóc nhà cửa kèm hít thở sâu khoảng nửa giờ mỗi ngày là đủ, tránh nằm xem tivi, sử dụng máy tính cả ngày. Nếu cần có thể luyện tập cơ bắp, hít thở sâu hơn để ra nhiều mồ hôi.

3. Nâng niu giấc ngủ

Từ những năm 1990, các nhà khoa học đã nghi ngờ làm việc ca kíp về đêm làm giấc ngủ bị đảo lộn, ngủ phòng không đủ tối hoặc không đủ giờ ngủ là nguy hại cho sức khỏe.

Năm 2007, Cơ quan Quốc tế nghiên cứu ung thư (IARC) xác định làm việc ca đêm có thể gây ung thư cho con người, tương tự tia cực tím hoặc khói xả từ diesel.

Nhiều nghiên cứu cho thấy melatonin do tuyến tùng tiết ra giúp các tế bào của cơ thể chống lại các chất ô xy hóa, sửa chữa phân tử DNA, từ đó kiềm chế các tế bào ung thư và giúp hệ miễn dịch tăng sản xuất các tế bào tiêu diệt ung thư.

Xáo trộn giấc ngủ làm giảm lượng hormone này, chiếc đồng hồ sinh học sẽ bị bẻ gãy. Thiếu ngủ làm đời sống ngắn lại, gia tăng bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường, huyết áp, béo phì, trầm cảm…

Vì vậy, hãy dỗ dành một giấc ngủ ngon mỗi đêm để phòng nhiều bệnh, trong đó có ung thư.

4. Tránh xa khói thuốc lá

Làn khói thuốc mong manh mà chúng ta có thể bắt gặp khắp nơi có chứa hơn 60 chất gây ung thư mạnh (năm 2030 sẽ có 2 tỷ người hút thuốc và con số tử vong là 8,3 triệu người) không chỉ gây hại cho người hút thuốc mà cả người “hít ké” khói thuốc lá, gây đủ loại bệnh như: bệnh tim mạch, xáo trộn sinh dục, cườm mắt, viêm phổi, viêm nướu răng, phình động mạch chủ bụng và hơn 15 loại ung thư: phổi, miệng, họng, thanh quản, dạ dày, tụy tạng, bọng đái, vú, cổ tử cung…

Hầu hết chúng ta đều ít nhiều biết đến tác hại của thuốc lá nhưng việc bỏ thuốc vẫn rất cần một sự quyết tâm cao.

5. Chữa các bệnh nhiễm

Các bệnh nhiễm làm tăng thêm gánh nặng ung thư vì có khoảng 20% các bệnh ung thư liên quan đến bệnh viêm nhiễm, chẳng hạn: viêm gan do virus HBV và HCV lâu ngày dẫn đến ung thư gan, các virus HPV (HPV 16-18) gây ra ung thư cổ tử cung và nhiều loại ung thư khác, vi khuẩn H. pylori là nguy cơ nhóm một gây ung thư dạ dày…

6. Tầm soát ung thư

Phát hiện sớm bệnh bằng cách kiểm tra sức khỏe đều đặn, chú ý tầm soát ung thư khoảng 3 năm một lần ở lứa tuổi từ 20 – 40 và hằng năm từ 40 tuổi.

Phụ nữ đặc biệt lưu ý rà tìm ung thư cổ tử cung và ung thư vú. Đàn ông lưu ý rà tìm ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư gan sớm.

Người có bệnh sử viêm loét dạ dày, có thể xét nghiệm tìm vi khuẩn H. pylori để có xử lý thích hợp. Từ 50 tuổi, nếu có điều kiện nên được bác sĩ tư vấn tầm soát ung thư đại trực tràng…

7. Lưu ý các triệu chứng báo động ung thư

Theo BS. Nguyễn Chấn Hùng, hiện có trên 100 loại ung thư khác nhau nhưng có những triệu chứng chung cần lưu ý như:

– Thay đổi thói quen của ruột: đột nhiên có rối loạn tiêu hóa, táo bón, tiêu chảy dai dẳng, nhất là ở người trên 40 tuổi thì cần cảnh giác ung thư ruột.

– Vết sùi loét không chịu lành: vết lở loét ngày càng trầm trọng, dù điều trị tích cực vẫn không lành hoặc một vết lở nhỏ, một chồi cứng dai dẳng ít đau trong miệng (môi, lưỡi, amidal) ở đàn ông trên 40 tuổi, hút thuốc nhiều thì nên cảnh giác ung thư.

– Chảy máu bất thường ở âm đạo đối với phụ nữ trên 30 tuổi thì cảnh giác ung thư cổ tử cung.

– Phụ nữ có cục u ở vú không đau hoặc ít đau phải cảnh giác ung thư vú.

– Ăn không tiêu ở người trên 40 tuổi có thể là dấu hiệu của ung thư bao tử.

– Khó nuốt, nuốt nghẹn thì cần cảnh giác bệnh ung thư thực quản.

– Ho dai dẳng không rõ nguyên nhân ở người trên 40 tuổi hút thuốc nhiều, kèm đàm máu, có thể là triệu chứng ung thư phổi.

– Khản tiếng kéo dài có thể do ung thư thanh quản, đặc biệt đàn ông trên 40 tuổi, hút thuốc nhiều.

– Rối loạn chung chung: suy nhược, sút cân, không thèm ăn có thể là do ung thư thực quản, bao tử, tụy tạng đau nhức có thể là triệu chứng ban đầu của ung thư xương.

Trên đây là những dấu hiệu báo động, chưa hẳn là dấu hiệu bệnh. Vì vậy, khi có các triệu chứng này thì cần đến bác sĩ kiểm tra, nhằm phát hiện sớm bệnh ung thư.

Ngày đăng

Bảo quản thức ăn sai cách có thể gây ung thư

Bảo quản thức ăn sai cách có thể gây ung thư

   Dù được bảo quản trong tủ lạnh nhưng trong thực phẩm vẫn xảy ra quá trình biến đổi protein khiến cho thực phẩm mất chất dinh dưỡng, thậm chí chuyển thành chất độc.

    Dù lưu trữ trong tủ lạnh thì vẫn có quá trình biến đổi protein xảy ra

Nhiễm độc vì ăn thức ăn thừa trong tủ lạnh

   Nhiều bà nội trợ có quan niệm  nếu thức ăn thừa có thể cất đi vào tủ lạnh để ngày mai, ngày kia ăn cho khỏi lãng phí. Song theo các nhà chuyên môn thì thực phẩm bảo quản trong tủ lạnh vẫn bị biến đổi dù tốc độ chậm hơn so với để ở bên ngoài. Ở mức nhiệt 5-8oC trong ngăn mát tủ lanh, vi sinh vật ưa lạnh vẫn phát triển và quá trình biến đổi protein trong thực phẩm vẫn diễn ra.

   Quá trình này tạo nitrat, nitrit, khi muối nitrat đi vào cơ thể người sẽ tham gia phản ứng khử ở dạ dày và đường ruột do tác dụng của các men tiêu hóa sinh ra NO2. Chất này trong cơ thể dễ tác dụng với các amin tạo thành nitrosamine -1 hợp chất tiền ung thư. Cơ thể sẽ không kịp đào thải nếu hàm lượng nitrosamin cao, khi chất này bị tích lũy lâu ngày trong gan gây ra hiện tượng nhiễm độc, ung thư

   Nitrit cũng rất độc hại, chỉ với hàm lượng 0,01 mg/l đã có thể gây độc hại cho sức khỏe con người. Khi đó, cơ thể sẽ không thể làm tròn chức năng hô hấp, xuất hiện các biểu hiện như khó thở, ngột ngạt. Với hàm lượng cao hơn có thể gây ức chế oxy dẫn đến hiện tượng thiếu oxy trong máu làm cho cơ thể bị choáng váng, ngất, thậm chí, trường hợp nhiễm độc trầm trọng mà không được cứu chữa kịp thời sẽ dẫn đến nguy cơ tử vong cao.

   Thực tế, việc chế biến thức ăn ở nhiệt độ cao chỉ giúp diệt các vi khuẩn, nấm mốc có hại còn hàm lượng các chất độc như nitrit vẫn không thay đổi.

Thói quen ăn không khoa học giết chết chúng ta

   Các nhà khoa học tại trường Đại học Chiết Giang, Trung Quốc đã tiến hành thí nghiệm để đo nồng độ nitrit trong đồ ăn đã nấu chín để qua đêm, nhóm nghiên cứu đã chọn 4 đĩa đồ ăn: rau cải xào, hẹ xào trứng, thịt kho tàu và cá kho. Những món ăn này đều được chế biến một cách hợp vệ sinh, hàm lượng nitrit đạt tiêu chuẩn cho phép. 4 đĩa thức ăn được bọc kín và bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 4oC.

   Sau 6 giờ, hàm lượng nitrit trong rau cải xào tăng 16%, hẹ xào trứng tăng 6%, riêng trong thịt kho tàu và cá kho thì hàm lượng nitrit tăng đến trên 70%, vượt ngưỡng tiêu chuẩn là 3 mg/kg thịt.

   Sau 18 giờ, các món ăn được cho vào lò vi sóng hâm nóng lại rồi mang đi xét nghiệm, hàm lượng nitrit trong rau cải xào đã tăng đột biến, cao hơn 443% so với hàm lượng đo được sau 6 giờ.

   Hàm lượng nitrit trong cá trích kho cũng tăng đến 54%, hẹ xào trứng tăng 47%, chỉ riêng thịt kho tàu không có biến đổi lớn về hàm lượng nitrit.

   Do đó, không khó để giải thích nguyên nhân của các trường hợp bị ung thư, các đối tượng đều có thói quen ăn đồ ăn thừa được để qua đêm.

   Ngoài ra, những thói quen không tốt khác như ăn quá nhiều đồ chiên rán, đồ nướng tẩm ướp nhiều gia vị ở các hàng quán ven đường không đảm bảo vệ sinh cũng khiến hàm lượng nitrit tích tụ trong cơ thể nhiều hơn và nguy cơ dẫn đến ung thư cũng tăng cao hơn.

Ngày đăng

Bảo đảm An toàn vệ sinh thực phẩm tại hộ gia đình

Bảo đảm An toàn vệ sinh thực phẩm tại hộ gia đình

Hàng năm có rất nhiều người bị mắc bệnh do ăn thực phẩm. Họ có thể bị ỉa chảy, nôn, đầy bụng, sốt hoặc co giật, mỏi cơ. Họ thường nghĩ là do bị cảm cúm nhưng nguyên nhân thực sự là do vi khuẩn có trong thực phẩm mà họ đã ăn trước đó ít giờ hoặc vài ngày. Thậm chí nước Mỹ là một trong những nơi cung cấp thực phẩm an toàn nhất trên thế giới nhưng hàng năm vẫn còn hơn 2 triệu ca ngộ độc thực phẩm.

Hầu hết các bệnh truyền qua thực phẩm có thể tránh được nếu thực phẩm được chế biến đúng cách. Theo thống kê của Trung tâm kiểm soát bệnh dịch Mỹ thì trong giai đoạn từ 1988-1992, hầu hết các bệnh truyền qua thực phẩm xảy ra đều liên quan tới thực hành chế biến thực phẩm như: nhiệt độ chế biến chưa thích hợp, thiếu vệ sinh cá nhân, nấu chưa kỹ, dụng cụ ô nhiễm, nguồn gốc thực phẩm không an toàn…

Thế nào là thực phẩm sạch? 

Thực phẩm sạch:

     • Thực phẩm không có tác nhân cơ học: bụi bẩn, sạn, mảnh thủy tinh… 

     • Không có mầm gây bệnh (vi sinh vật gây bệnh)

     • Không có chất hóa học tồn dư quá mức cho phép  

Bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm là gì?

     • Tuân thủ các quy trình thực hành vệ sinh trong suốt quá trình từ sản xuất, vận chuyển, chế
biến, lưu thông phân phối để đảm bảo có thực phẩm sạch cung cấp cho người tiêu dùng 

     • Thực hành vệ sinh tốt trong bếp mỗi hộ GĐ từ khi đi mua thực phẩm tới lúc bày thực phẩm lên
bàn ăn   

Các bệnh truyền qua thực phẩm là gì? 

     • Bệnh truyền qua thực phẩm là bệnh được truyền qua người do ăn thực phẩm

     • Chẩn đoán & theo dõi các bệnh truyền qua thực phẩm phổ biến tại cộng đồng cho biết bệnh
truyền qua thực phẩm là bệnh có liên quan tới thực phẩm  đã ăn trước khi bị bệnh

     • Dịch vụ sức khỏe cộng đồng của Mỹ đã xác định thực phẩm có độ ẩm cao, giàu đạm và/hoặc
độ axit thấp được coi như thực phẩm có mối nguy tiềm ẩn.  Thực phẩm giàu đạm bao gồm: sữa
& sản phẩm sữa, trứng, thịt gia súc gia cầm, cá, hải sản (tôm, cua, sò..), khoai tây luộc,nướng,
đậu phụ và các loại đậu đỗ…

     • Những thực phẩm này có thể hỗ trợ cho nhiễm khuẩn & phát triển nhanh các bệnh truyền
nhiễm do vi khuẩn 

Ai là đối tượng nguy cơ? 

Hệ thống miễn dịch sẽ giúp chúng ta chống lại nhiễm trùng, nhưng hệ thống miễn dịch của trẻ nhỏ, bà mẹ mang thai, người già & người bị bệnh mạn tính có nguy cơ cao nhất bị mắc bệnh truyền qua thực phẩm. Trẻ nhỏ do axit trong dạ dày chưa đày đủ nên dễ bị mắc bệnh truyền qua thực phẩm. Những người mắc bệnh mạn tính như tiểu đường, viêm cầu thận, ung thư, HIV… giảm miễn dịch nên dễ mắc .

Do đâu mà Thực phẩm lại trở nên nguy hiểm? 

Thực phẩm trở thành mối nguy do bị ô nhiễm. Sự ô nhiễm là sự có mặt không dự tính trước của các chất hóa học hoặc vi sinh vật có hại trong thực phẩm. Nguồn ô nhiễm thực phẩm là các tác nhân hóa học, cơ học và sinh vật

     • Mối nguy hóa học: dư lượng HCBVTV, thuốc thú y bao gồm cả các dung dịch tẩy rửa và tiệt
trùng

     • Mối nguy cơ học: Là những tạp chất bên ngoài như: mảnh thủy tinh, hạt sạn,..

• Mối nguy sinh học: Chủ yếu do các vi sinh vật 

Ô nhiễm chéo là gì?     

Ô nhiễm chéo là sự truyền những chất có hại từ thực phẩm qua:

     • Bàn tay khi xử lý thực phẩm tươi sống như: gà, cá.. rồi lại sờ vào các thực phẩm ăn liền như:
trộn nộm, hoa quả… Bề mặt của  thớt hoặc khăn lau khi tiếp xúc với thực phẩm sống rồi lại dùng
cho thực phẩm đã nấu chín/ăn liền hoặc bát đũa sạch

• Thực phẩm sống hoặc thực phẩm đã bị ô nhiễm khi tiếp xúc/ dây dớt chất lỏng vào thực phẩm
chín, thức ăn ăn liền 

Tại sao vi sinh vật lại quan trọng?

Vi sinh vật có mặt ở mọi nơi. Bạn có thể không nhìn thấy, sờ thấy, không ngửi thấy nhưng chúng chốn trong cơ thể, trong không khí, tủ bếp và các dụng cụ nhà bếp và trong thực phẩm. Vi sinh vật chính là các virus, ký sinh trùng, nấm và vi khuẩn. Các Virus là đang sống nhỏ nhất, đơn giản nhất. Chúng không thể sinh sản ngoài tế bào sống. Một khi chúng vào tế bào chúng cố tạo nhiều virus hơn. Một vài virus chịu được nóng và lạnh. Chúng không cần thực phẩm phải giàu protein để sống. Chúng không nhân đôi khi ở trong thực phẩm. Thực phẩm chỉ là vật thể trung gian để virus truyền từ vật chủ này sang vật chủ khác

Ký sinh trùng cần sống trên/trong vật chủ. Các ví dụ về ký sinh trùng mà thực phẩm bị nhiễm là: Trichinella spiralis (trichinosis) sống ở lợn, và Anisakis giun tròn sống trong cá

Cái gì đe dọa nhất cho an toàn thực phẩm? 

Trong các vi sinh vật, vi khuẩn là nguồn đe dọa lớn nhất đối với an toàn thực phẩm. Vi khuẩn là cơ thể sống, đơn bào có khả năng phát triển nhanh ở nhiệt độ thích hợp. Có vài vi khuẩn có ích được sử dụng để làm ra một số thực phẩm như: fo-mat, dưa muối và sữa chua. Các vi khuẩn khác là tác nhân gây bệnh nhiễm trùng được gọi là mầm bệnh. Chúng sử dụng các chất dinh dưỡng trong thực phẩm giàu protein để sinh sôi bằng cách nhân đôi

Các thao tác sử lý thực phẩm là mối nguy đe dọa an toàn thực phẩm khi các thao tác này tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển trong thực phẩm. Nếu bạn chế biến, xử lý các thực phẩm có tiềm ẩn mối nguy bạn có thể chuyển hàng ngàn vi khuẩn lên bề mặt xử lý thực phẩm đó như: dao, thớt, bàn bếp, khăn lau…

Điều kiện nào thuận lợi cho vi khuẩn phát triển? 

     • Vi khuẩn có thể sống ở nhiệt độ nóng và lạnh hơn con người, nhưng chúng sống & phát triển
tốt nhất ở điều kiện ấm, ẩm và môi trường giàu protein (pH trung tính hoặc kiềm). Có một vài
ngoại lệ như một số  vi khuẩn có thể phát triển nhanh ở nhiệt độ cực nóng hoặc cực lạnh. Một
số khác có thể sống sót trong điều kiện axit hoặc rất mặn. Vi khuẩn phát triển nhanh nhất ở
trong dải nhiệt độ từ 4°C (40°F) đến 60°C (140°F).

     • Dải nhiệt độ từ 4°C (40°F) đến 60°C (140°F) được gọi là Vùng nguy hiểm

Đâu là vùng nguy hiểm? 

“Vùng nguy hiểm”: là thời điểm tối ưu cho các vi sinh vật phảt triển mạnh. Đó là

     • Nhiệt độ: từ 4° đến  60°C là nhiệt độ thích hợp cho các vi sinh vật phát triển 

     • Thời gian: trong vòng 2 giờ ở nhiệt độ 4°C đến  60°C vi khuẩn có thể được sinh sôi theo cách
nhân đôi lên hàng triệu lần điểm kiểm soát người tiêu dùng     

Quy trình thực phẩm tại hộ gia đình: 

     • Đi chợ mua thực phẩm

     • Bảo quản

     • Xử lý, chế biến

     • Nấu thực phẩm

     • Bày/dọn bàn ăn

     • Sử lý thức ăn còn thừa 

1. Mua hàng 

     • Đi chợ, mua thực phẩm tươi sống (lợn, bò, cá, hải sản…), thịt gia cầm và các sản phẩm của thịt
cuối cùng, nhưng về nhà phải ưu tiên xử lý trước.
     • Để thực phẩm tươi sống, thịt gia cầm trong các túi riêng biệt với các thực phẩm khác (đặc biệt
là các thức ăn sẵn, hoa quả).
     • Cân nhắc sử dụng các túi Nilon để đựng thực phẩm tươi sống, thịt gia cầm
     • Bảo đảm chắc chắn thực phẩm tươi sống, thịt gia cầm được bảo quản ngay khi về tới nhà.
     • Thực phẩm đồ hộp nên chọn loại không bị bẹp méo, phồng, hở..và còn hạn sử dụng

2. Bảo quản 

     • Về nhà, làm lạnh hoặc gói lại thực phẩm tươi sống, thịt gia cầm và cấp đông ngay 

     • Tránh để nước từ thịt, cá tươi sống nhỏ vào các thực phẩm khác trong tủ lạnh, bảo quản thịt,
cá, hải sản vào các túi nilon/hộp kín 

     • Rửa tay bằng nước xà phòng đúng cách trước và sau khi sử lý chế biến thịt, cá, hải sản tươi
sống

     • Các thực phẩm đồ hộp được đặt nơi khô, mát, sạch sẽ tránh để nơi quá nóng hoặc quá lạnh   

3. Chế biến

     • Rửa tay trước và sau khi chế biến thực phẩm là quan trọng.

     • Không để nước thực phẩm tươi sống nhỏ/rơi vào thực phẩm đã chín hoặc ăn liền như: hoa quả,
các thành phần trộn nôm

     • Rửa tay, quầy bếp, các dụng cụ chế biến như: dao, thớt bằng xà phòng và nước ngay lập tức
sau khi dùng xong. Nơi chế biến thực phẩm cần cao ráo sạch sẽ.

     • Dã đông thực phẩm trong tủ lạnh, không bao giờ dã đông ở nhiệt độ phòng. Khi sử dụng lò vi
sóng để dã đông thịt, cá nên nấu ngay lập tức sau dã đông.

     • Luôn rửa sạch bằng xà phòng/ tráng nước sôi, để khô dụng cụ làm bếp, đặc biệt là dao thớt sau
khi thái thịt , cá sống. Tốt nhất nên sử dụng dao thớt riêng cho thái thịt, cá sống.

 4. Nấu 

     • Nấu thật kỹ thực phẩm. Nếu có vi khuẩn gây bệnh thì nấu chín kỹ cũng sẽ tiêu diệt được chúng

     • Phải nấu kỹ thịt gà, lợn, bò, cá… không để thịt còn đỏ ở bên trong

     • Nấu liên tục cho đén chín, không nấu nửa chùng hoặc từng phần và khi nấu xong không để nồi
thức ăn trên bếp.

     • Khi sử dung lò vi sóng, nên sử dụng các đồ chứa an toàn cho lò vi sóng. Các hộp nhựa chuyên
dùng cho lò vi sóng, có nắp đậy đưa vào lò chỉnh nhiệt độ để bảo đảm thức ăn chín kỹ 

5. Bày mâm

     • Rửa tay trước khi bày mâm hoặc trước khi ăn

     • Bày thức ăn trong các dụng cụ sạch và để nơi cao ráo sạch sẽ tránh bụi, chó mèo…

     • Không bao giờ để thức ăn/thực phẩm có mối nguy tiềm ản (bao gồm cả sống và chín) quá 2 giờ
ở nhiệt độ phòng

     • Bảo quản thực phẩm/thức ăn nóng ở nhiệt độ trên 60°C. Và thực phẩm/ thức ăn lạnh ở  nhiệt
độ dưới 4°C.   

6. Xử lý thức ăn thừa

     • Rửa tay trước và sau khi sử lý thức ăn thừa

     • Sử dụng các dụng cụ: bát đĩa.. sạch

     • Chia thức ăn thừa thành từng phần nhỏ và cho vào các hộp đựng thực phẩm để làm lạnh
nhanh 

     • Làm lạnh ngay thức ăn trong vòng 2 giờ sau khi nấu

     • Trước khi ăn phải đun nóng lai thức ăn ở nhiệt độ trên 80°C. Với súp, nước sốt và nước thịt
phải đun sôi sai sót phổ biến nhất là làm lạnh thức ăn thừa quá muộn   

Ghi nhớ

Từ lúc mua thực phẩm tới khi chế biến xử lý tại nhà nên ghi nhớ:

     • Bảo quản thịt tươi sống: lợn, gà, bò, cá hải sản…riêng tránh tiếp xúc với hoa quả tươi 

     • Đặt thịt, hải sản tươi sống ở nơi thấp nhất trong rổ đi chợ, tủ lạnh… để tránh nhỏ nước, tiếp
xúc với các thực phẩm khác

     • Bảo đảm thực phẩm được giữ lạnh từ cửa hàng về nhà. Nên tính toán thời gian đi chợ để bảo
đảm thực phẩm đã mua không vào “Vùng nguy hiểm”

     • Kiểm tra bao gói, thời hạn sử dụng để bảo đảm thực phẩm còn tốt

     • Bảo đảm chắc chắn bạn có đủ chỗ bảo quản thực phẩm trong tủ lạnh. Thức ăn nên để ở nơi
cao, khô ráo,sạch sẽ bảo đảm tránh bụi, súc vật: chó mèo. chuôt… Cần ăn ngay sau khi nấu
tránh để thức ăn đã nấu chín lâu quá 2 giờ ở nhiệt độ phòng    

Ngày đăng

Táo Bón ở người cao niên

Táo Bón ở người cao niên

Những chức năng xảy ra hàng ngày ở con người như: Ăn uống, Ngủ, Tiểu tiện, và Đại tiện. Nếu chúng ta không đi đại tiện 3 lần trong mỗi tuần, chúng ta bị táo bón. Táo bón là một bệnh rất thông thường ở mọi người, nhất là người cao niên (trên 65 tuổi). Đa số các bác sĩ ít chú ý đến vấn đề này, nhưng người cao niên lại rất chú ý nhiều.

1/ Thế nào mới gọi là táo bón và ai thường bị táo bón?

Trước hết, ta phải tìm hiểu về vấn đề tiêu hóa. Vì táo bón là một bệnh của đường tiêu hóa. Nó liên quan đến vấn đề vận chuyển của hệ thống tiêu hóa. Khởi đầu hệ thống tiêu hóa ở miệng. Khi ăn uống, chúng ta nhai thực phẩm cho đến khi các loại thực phẩm nhỏ hơn hay bằng 1 ly (millimètre), chúng ta mới nuốt vào. Thực phẩm trong dạ dày (stomach) được nắn bóp cho nhuyễn trước khi đi xuống hành tá tràng (thập nhị chỉ tràng – duodenum). Ở dạ dày, thực phẩm được tiêu hóa bởi chất bài tiết của dạ dày, được gọi là dịch vị. Dịch chứa phần lớn là acid cho nên có vị chua. Sự di chuyển thực phẩm từ dạ dày xuống hành tá tràng (duodenum) mất 15 phút cho chất lỏng và 45-90 phút cho thức ăn cứng.

Khi thực phẩm xuống đến hành tá tràng, chúng được tiêu hóa hơn nữa bởi những chất bài tiết từ lá mía (pancreas) và mật (bile) tiết ra bởi gan. Khi thực phẩm đi qua tiểu tràng (duodenum, jejunum & ileum) những chất dinh dưỡng được hấp thụ vào máu. Số còn lại được đưa đến đại tràng (colon). Thời gian mất từ 40 phút cho đến 3 giờ (180 phút).

Đại tràng chia làm 3 phần. Bắt đầu từ vùng bụng dưới bên phải còn gọi là đại tràng đi lên (ascending colon). Phần thứ 2 đi từ ba sườn bên phải qua đến ba sườn bên trái, vắt ngang qua dạ dày được gọi là đại tràng ngang (transverse colon). Đoạn thứ 3 đi từ ba sườn bên trái xuống đến bụng dưới có 3 phần: đại tràng đi xuống (descending colon), đại tràng có hình chử Z (sigmoid colon), và trực tràng (rectum). Trực tràng nối liền hậu môn (anus). Thời gian để chất cặn bã đi từ cuối tiểu tràng, qua đại tràng cho đến hậu môn mất từ 40-60 giờ. Trong thời gian này, chất phế thải lại được đại tràng lấy bớt một số muối khoáng (minerals) và nước.

Một người ăn uống bình thường có thể đi tiêu từ 3 lần mỗi ngày cho đến 3 lần mỗi tuần (2 ngày đi tiêu một lần). Cục phân cũng không cứng và cũng không mềm quá. Khi cục phân bình thường rớt xuống cầu tiêu, nó xoay trong nước 2 vòng. Khi đi cầu chúng ta không cần phải rặn (straining).

Táo bón xảy ra ở người cao niên nhiều hơn người dưới 65 tuổi.

Người cao niên ở trong bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão (nursing home) bị táo bón nhiều hơn. Táo bón xảy ra ở những người này đến 60-70%.

• Táo bón ở người phụ nữ nhiều hơn nam giới.

• Táo bón ở người da màu nhiều hơn da trắng.

• Táo bón ở những người nghèo nhiều hơn người giàu.

• Táo bón ít xảy ra ở những người có trình độ học thức cao.

Người cao niên thường than phiền về táo bón một phần là họ chú ý đến vấn đề đi tiêu của họ nhiều hơn người trẻ. Có những cao niên sống lẻ loi một mình và ít tiếp xúc với những người khác nên họ có kiến thức về sự tiêu hóa của họ ít hơn.

Nói chung, dù ít tuổi hay nhiều tuổi, những yếu tố chính ảnh hưởng đến táo bón là:

Thực phẩm thiếu chất sợi (low fiber diet) nên có ít phân.

Không uống đủ nước: trung bình một người uống 2 lít nước (litres) kể cả nước ngọt, bia rượu, canh…. Khi thiếu nước, phân bị khô nên khó đi cầu.

Thiếu hoạt động: khi cơ thể ta vận chuyển như đi bộ, các bắp thịt bụng co thắt và ép phân trong đại tràng chuyển động.

Không có thói quen đi tiêu mỗi ngày: khi phân tụ tập trong trực tràng (rectum) gần hậu môn tạo áp lực làm cơ vòng bên trong tự động mở ra và làm cho ta muốn đi tiêu. Nhưng cơ vòng bên ngoài điều khiển bởi não bộ, theo ý muốn của ta. Khi ta ngồi vào bàn cầu, chúng ta mở hậu môn ra (relax), phân mới đi ra ngoài được. Cho nên, ta nên ngồi trên cầu tiêu và mở hậu môn ra khoảng nửa giờ (1/2 hour) mỗi ngày dù không đi tiêu được.

2/ Những nguyên nhân nào đưa đến táo bón?

Táo bón đơn thuần:

Thường không biết rõ nguyên do. Có thể do 4 yếu tố vừa đề cập trên: ăn thiếu chất sợi, uống không đủ nước, ít hoạt động, và không có thói quen đi tiêu. Hay mắc đi tiêu mà ráng nhịn thường xảy ra ở phụ nữ nhiều hơn.

Táo bón do hệ thống thần kinh trung ương (Central nervous system):

Ở người cao niên, tai biến mạch máu não xảy ra ở những nơi trên não dùng để điều khiển đại tràng và hậu môn làm mất đi sự co thắt và dãn nở của các cơ trơn trong đại tràng và cơ vòng (sphincters) của hậu môn. Ngoài ra sự yếu đuối của bắp thịt bụng và vùng xương chậu làm sự di chuyển của phân trong đại tràng cũng khó khăn.

Bệnh Parkinson hầu hết xảy ra ở người cao niên làm cho sự di chuyển thực phẩm trong hệ thống tiêu hóa chậm chạp đưa đến táo bón. Ngoài ra, thuốc trị bệnh này cũng gây ra táo bón

Bệnh trầm cảm (suy nhược thần kinh – depression), bệnh lẫn (dementia & confusion states) làm sự nhận thức của bệnh nhân kém đi. Nhiều khi họ không biết nhà vệ sinh ở đâu và nín luôn. Những bệnh này xảy ra ở người cao niên rất nhiều.

Những bệnh ở cột tủy sống ở lưng có thể làm cho đại tràng bất động. Đó là chấn thương cột sống (spine injury) thường do bệnh loãng xương (osteosporosis) ở người cao niên bị gãy (fracture), bệnh ung thư cột sống, thiếu máu đến cột sống do nghẹt mạch máu, và bệnh teo cột sống (spinal cord stenosis) do bệnh thấp khớp (arthritis) xương mọc nhánh (osteophytes) hay viêm sưng đè ép vào cột sống. Những bệnh ở cột tủy sống làm mất thần kinh đối giao cảm (parasympathic) đi đến đại tràng và làm mất những nhu động (peristalsis) của ruột giúp cho phân di chuyển đến hậu môn.

3/ Táo bón do thuốc men:

Trung bình một người cao niên uống từ 3-5 loại thuốc khác nhau mỗi ngày. Nhiều loại thuốc làm giảm hay mất đi chức năng đi tiêu mỗi ngày. Sau đây là những loại thuốc gây ra táo bón:

 Các loại thuốc chống đau (opioids): như codein (Tylenol #1, 2,3), pethidine, morphine, fentanyl, oxycodone…

 Các thuốc chống acid ở dạ dày (antacids): như calcium và aluminum compounds: Maalox, Alugel…

 Các loại thuốc chống co thắt ruột (antispasmodics): như Buscopan, dicyclomin…

 Các loại thuốc chống trầm cãm (antidepressants): như imipramine, amitriptyline…

 Các loại thuốc chống bệnh tâm thần khác (antipsychotics): như clozapine, chlorpromazine

 Các loại thuốc trị bệnh Parkinson: Benztropine

 Các loại thuốc trị tiêu chảy: Lomotil, Imodium

 Các thuốc trị bệnh cao áp huyết (antihypertensives): như Methyldopa, Clonidine, Propranolol, Verapamil, Diltiazem, dihydropyridines calcium channel blockers (Norvasc, Adalat XL, Renedil, Cardizem…)

 Các loại thuốc trị bệnh kinh phong (kinh giật/ anticonvulsant): Phenytoin, clonazepam…

 Các loại thuốc trị thấp khớp (anti-inflammatory agents): Naprosyn, Voltaren, Indocid, Motrin…

 Các loại thuốc để giãm cân (anoretic agents): thường các bà uống để cho ốm bớt như clophentermine, phenmerazine, phenfluramine.

 Các khoáng chất: aluminum, calcium compounds, chất sắt (iron compounds để trị bệnh thiếu máu do thiếu chất sắt), ngộ độc chì & arsenic, barium sulfate…

 Các loại thuốc khác: như polystyrens resins, cholestyramine, thuốc ngừa thai (birth control pill), octreotide…

4/ Táo bón do bệnh đường tiêu hóa:

 Hội chứng bất ổn của ruột: (irritable bowel syndrome) gây ra tiêu chảy rồi táo bón. Ngoài ra có triệu chứng đau bụng, sình ruột (bloating), mắc đi tiêu thường xuyên. Đi tiêu và có cãm giác không tiêu hết. Thường bệnh này không biết rõ nguyên do nhưng các bác sĩ cho rằng nó liên quan đến yếu tố tâm lý xã hội (psychosocial stressors)

 Những bệnh về hậu môn và trực tràng (anorectal diseases): làm cho đau đớn khi đi tiêu như bệnh trỉ (hemorrhoids), rách hậu môn (anal fissure)… Thường do rặn quá nhiều khi đi tiêu làm sưng và rách hậu môn đưa đến táo bón nặng hơn.

 Ngoài ra các bệnh khác như sa hậu môn (lòi dom – rectal prolapse) hoặc loét trực tràng (rectal ulcer) cũng gây ra táo bón: Những người phụ nữ từng sanh đẻ do sự thay đổi kích thích tố sinh dục nữ lúc mang thai, và sự rách, chấn thương lúc đẻ làm các bắp thịt vùng chậu (pelvic muscles) yếu đi cũng làm đi tiêu khó khăn hơn.

 Ung thư đại tràng (colon cancer): Khi một người thường bị táo bón và thiếu máu nên đi gặp bác sĩ để xem có bị ung thư đại tràng hay không? Điều tốt hơn hết, những người trên 65 tuổi nên thử phân có máu hay không trong những lần khám tổng quát hàng năm. Thử máu trong phân là một thử nghiệm đơn giản giúp cho bác sĩ tìm ra hầu hết các bệnh ung thư đại tràng.

 Bệnh Hirschsprung: bệnh có thể xảy ra lúc còn sơ sanh nhưng cũng có thể xảy ra lúc người bệnh đã trưởng thành. Bệnh có đặc tính mất các tế bào và hạch thần kinh ở đại tràng.

5/ Táo bón do những bệnh khác:

Như bệnh suy tuyến giáp (hypothyroidism) và cường tuyến giáp (hyperthyroidism) nhưng bệnh sẻ chấm dứt khi người bệnh chữa bệnh đúng mức.

Bệnh nhiều calcium (hypercalcemia) hay thiếu calcium trong máu (hypocalcemia) cũng gây ra táo bón.

Bệnh Porphyria là bệnh hiếm cũng gây ra táo bón.

6/ Táo bón đưa đến những hậu quả nào?

Khi táo bón, phân bị khô lại (fecal impaction). Phân khô cứng có thể đưa đến tắc nghẽn ruột (bowel obstruction). Khi bị táo bón, đại tràng phản ứng lại bằng cách tiết ra nhiều chất nhờn và nước làm bệnh nhân bị tiêu chảy. Chính tiêu chảy này làm người ta uống thuốc trị tiêu chảy làm bệnh này càng thêm trầm trọng. Đặc tính của tiêu chảy gây ra bởi táo bón (spurious diarrhea) là phân có cục và có lỏng. Bệnh chia ra làm 2 giai đoạn: táo bón rồi đến tiêu chảy. Sau tiêu chảy lại táo bón.

Ngoài ra táo bón còn gây ra bí tiểu (urinary retention) do sự dãn nở của đại tràng và bắp thịt ở vùng xương chậu. Cục phân cứng có thể đè lên cổ bọng đái (bladder outlet) làm bí tiểu rất khó chịu.

Táo bón gây ra đau bụng, nóng sốt, nhiễm trùng, nhiễm độc phình đại tràng (toxic megacolon) và xoắn đại tràng hình chữ Z (sigmoid colon). Ngoài ra táo bón cũng làm cho rách và lở trực tràng & hậu môn như đã đề cập trước đây. Táo bón có thể làm thủng ruột. Khi rặn nhiều quá, bệnh nhân có thể bị nhồi máu cơ tim (myocardial infarction).

7/ Làm thế nào để điều trị và ngừa táo bón?

Câu trả lời đơn giản nhưng cũng rất phức tạp, đó là gặp bác sĩ gia đình. Chúng ta phải làm cho bác sĩ gia đình chú ý đến vấn đề này. Đặc biệt là bác sĩ nào không bị táo bón hay lơ là đến vấn đề này. Thông thường các bác sĩ cho toa thuốc xổ. Nhưng thuốc xổ hay thuốc nhuận trường có nhiều loại:

Thuốc làm gia tăng số lượng của phân và lượng nước trong phân: Như chất psylium thường dưới dạng bột như Metamucil, Isphagula, Frangula và Sterculia. Methycellulose cũng được xếp vào nhóm này nhưng ít được dùng làm thuốc xổ. Những thuốc này gồm những chất không được hấp thụ vào máu và ngược lại chúng giữ nước trong đại tràng làm gia tăng số lượng phân.

Thuốc làm phân mềm: như Bisacodyl, Docusate sodium làm phân mềm bằng cách giữ nước lại trong phân không cho tiểu tràng hay đại tràng hút hết đi. Vì thế, thuốc này được các bác sĩ ưa chuộng nhất vì chúng giúp cho bệnh nhân tránh rặn khi đi tiêu.

Thuốc làm cho trơn ruột (Lubricants): như chất paraffin làm cho ruột trơn, phân dễ di chuyển trong ruột. Biến chứng phụ của thuốc này làm bệnh nhân dễ bị đi tiêu trong quần, ngứa hậu môn, và làm thức ăn không hấp thụ vào máu. Thường những chất này được pha trộn với thuốc kích thích đại tràng co thắt (stimulant laxatives) như phenolphthalein (Agarol). Mọi người nên tránh loại này ngoại trừ thuốc này được kê toa bởi các bác sĩ chuyên môn về đường tiêu hóa.

Thuốc làm tăng áp lực phân tử trong ruột (osmotic laxatives): loại thuốc này trở nên rất phổ biến trong việc điều trị bệnh táo bón kinh niên. Và chúng được coi như là thuốc chính dùng để trị bệnh táo bón. Chúng là những chất Lactulose, Sorbitol, mannitol, Glycerol, Polyethylene glycol (Colyte), Magnesium sulphate, Magnesium phosphates.

Những thuốc này làm tăng lượng nước trong đại tràng và tăng sự di chuyển của phân trong đại tràng đi lên từ phía trái của bụng. Thuốc này dùng để trị bệnh táo bón kinh niên (mãn tính) ở người cao niên rất tốt.

Những thuốc làm kích thích ruột già (secretagogues): là những loại kích thích đại tràng co thắt và bài tiết nước như phenolphthalein, bisacodyl, castor oil, anthraquinone (senna & cascara sagrada). Dùng nhiều loại này gây ra xáo trộn chất điện giải và không hấp thụ được mỡ và các loại vitamins A, D, E, và K vào trong máu. Chính vì vậy những người cao niên không nên tự ý xử dụng những thuốc này mà không hỏi ý kiến của bác sĩ.

Ngoài ra những người cao niên xử dụng thuốc xổ thường xuyên đưa đến nhiều biến chứngvề đường ruột. Vì thế trong bài này, tôi trình bày nhiều về đặc tính của các loại thuốc xổ. Tốt nhất là nên hỏi ý kiến của bác sĩ cách xử dụng thuốc và xử dụng trong bao lâu.

8/ Cách ngừa bệnh táo bón:

Như tôi đã trình bày ở phần đầu về các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề đi tiêu, đó là thực phẩm nhiều chất sợi, uống nhiều nước, thể dục thể thao, và thói quen đi tiêu mỗi ngày.

Vấn đề ăn: chất sợi là thành phần quan trọng trong thực phẩm để ngừa táo bón. Chất sợi chứa các chất cellulose, hemicellulose, pectins, lignins, sáp (waxes) từ thành (walls) của tế bào thực vật. Các chất này không hấp thu vào máu được. Cái gì ở trong ruột không vào máu sẽ ra “ngả sau”. Mỗi ngày, ta phải ăn ít nhất là 30-35 grams chất sợi. 10 grams chất sợi tương đương với 4 lát bánh mì nâu (whole grain bread) hay 3 oz lúa mì xay nhuyễn. Đa số chất sợi ta ăn hàng ngày từ cơm gạo, bột, lúa mì, lúa mạch, rau, và trái cây.

Chất methylcellulose và psyllium không có trong thực phẩm nhưng ở dưới dạng thuốc cũng tốt cho việc tiêu hóa. Nếu ta ăn nhiều chất sợi quá thì cũng dễ bị đầy hơi (bloating), xì hơi (đánh rắm/passing gases) nhiều hơn 15 lần mỗi ngày và tức bụng. Đôi khi làm cho khó đi tiêu

Vấn đề uống nước: Trung bình một người phải uống nước (các loại) 1,5 lít mỗi ngày. Nếu là mùa hè hay tập thể dục có đổ mồ hôi phải uống ít nhất là 2 lít mỗi ngày. Ở người cao niên, cảm giác khát nước thường bị mất nên họ uống nước ít. Cách hay nhất là để 2 lít nước ở nơi chúng ta thường thấy (trên bàn hay đầu giường) để dễ nhớ mà uống.

Vấn đề thể dục: Không cần phải tập thể dục nhiều để dễ đi tiêu. Chỉ cần làm động tác thể dục hay đi bộ nửa giờ mỗi ngày là có thể đi tiêu dễ dàng.

Thói quen đi tiêu: Thường vào buổi sáng vừa thức dậy hay sau mỗi bữa ăn, tiêu hóa vận chuyển mạnh làm ta muốn đi tiêu. Chúng ta nên đi tiêu đúng giờ và không cho ai quấy rầy. Không nên trả lời điện thoại khi mắc đi tiêu. Dùng chỉ một nhà vệ sinh mỗi ngày cũng giúp dễ đi tiêu. Nhà vệ sinh sạch sẽ, không hôi hám nhiều cũng khuyến khích ta đi tiêu dễ dàng. Không dùng chung nhà vệ sinh với người lạ hoặc nhiều người trong gia đình cũng giúp bớt táo bón. Đây là lý do tại sao các nước Âu Mỹ có nhiều nhà vệ sinh trong cùng một căn nhà. Nếu hôm nào không đi tiêu được cũng đừng bực bội. Càng bực bội càng táo bón.

Nói tóm lại, những người cao niên khi bị táo bón phải làm những biện pháp phòng ngừa trước. Nếu thất bại, chỉ nên uống những loại thuốc làm phân mềm như Metamucil hoặc Docusate sodium thôi. Nếu còn thất bại nữa, đi gặp bác sĩ gia đình. Khi gặp bác sĩ gia đình nên trình bày chi tiết về bệnh táo bón của mình (nên sắp sẵn trong đầu hoặc ghi trên tờ giấy vì ít có bác sĩ có kiên nhẫn ngồi nghe những lời dài dòng). Và nhớ lưu ý bác sĩ là chúng ta đả làm biện pháp phòng ngừa và uống thuốc làm phân mềm rồi. Nếu người bệnh chỉ nói với bác sĩ là “táo bón”, các vị bác sĩ sẽ tự động cho toa thuốc làm phân mềm và cách phòng ngừa thôi và không tìm hiểu thêm. Nếu vị bác sĩ nào không chú ý đến nữa, đó là lúc ta đi tìm bác sĩ nào chú ý đến táo bón. Điều quan trọng là không nên thụt tháo hay rửa ruột bằng nước ấm, nước muối, hoặc nước xà-phòng. Những phương pháp này làm khó chịu hậu môn và đại tràng. Đôi khi làm ngộ độc nuớc vì nước hấp thu qua đại tràng rất dễ hoặc làm thủng ruột.

Tôi hy vọng bài này giúp cho các vị cao niên hưởng 1 trong 4 tứ thú của cuộc đời. Đó là đi tiêu dễ dàng.

Sách Báo Tham Khảo:

1. Motility of the Large Intestine,: Sleisenger & Fordtran’s Gastrointestinal and Liver Disease, 7th ed., Copyright © 2002

2. Pelvic Organ Support Study (POSST) and bowel symptoms: Straining at stool is associated with perineal and anterior vaginal descent in a general gynecologic population:

Margie A. Kahn, MD *, Carmen Radecki Breitkopf, PhD, Michael T. Valley, MD, Patrick J. Woodman, DO, Amy L. O’Boyle, MD, Deirdre I. Bland, MD, Joesph I. Schaffer, MD, James J. Grady, DrPH, Steven E. Swift, MD.

American Journal of Obstetrics and Gynecology

Volume 192 • Number 5 • May 2005

Copyright © 2005 Mosby, Inc.

3. Fecal Incontinence, Lawrence R. Schiller, Feldman: Sleisenger & Fordtran’s Gastrointestinal and Liver Disease, 7th ed., Copyright © 2002.

4. Constipation: evaluation and treatment

Satish S.C. Rao, MD, PhD, FRCP (Lon),

Department of Internal Medicine

University of Iowa Carver College of Medicine

200 Hawkins Drive

Iowa City, IA 52242, USA

                                                                                                                   (nguồn : ST)

Ngày đăng

BỆNH DO RĂNG MIỆNG

BỆNH DO RĂNG MIỆNG

Y văn xưa nhắc nhở “Bệnh tùng khẩu nhập” là có ý nói đến sự ăn uống không đúng cách sẽ đưa tới một số bệnh. Chẳng hạn ăn nhiều hơn với nhu cầu sẽ bị bệnh mập phì. Tiêu thụ quá nhiều chất béo động vật sẽ bị bệnh tim mạch. Thức ăn không rửa sạch, nấu chín nhiễm vi khuẩn, siêu vi gây ra ngộ độc thực phẩm, uống nhiều rượu, hút nhiều thuốc lá tăng rủi ro ung thư miệng… Nhưng đâu có ai ngờ nhiều bệnh hiểm nghèo cũng có thể bắt nguồn từ răng miệng. Chẳng hạn bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch, bệnh phổi, bệnh loãng xương, bệnh thận, bệnh thấp cấp tình, mẹ sanh non, con thiếu ký…

Miệng

Miệng là cửa mở phía trên của bộ máy tiêu hóa, bắt đầu từ cặp môi rồi tới răng, lợi, lưỡi và họng. Miệng có vai trò quan trọng trong sự tiêu hóa thực phẩm. Thức ăn được răng nghiền nát, trộn với nước miếng, thành một khối nho nhỏ, mềm mềm để đưa xuống dạ dày. Ăn chậm, nhai kỹ giúp sự tiêu hóa dễ dàng.

Cũng từ miệng, diêu tố amylase bắt đầu phân hóa ra đường các chất tinh bột trong cơm, trong hạt đậu. Cho nên nhai cơm lâu ta thấy có vị ngọt ngọt ở lưỡi.

Mới sanh, xoang miệng với các mô mềm như môi, lưỡi, vòm miệng, hai bên má đều không có vi khuẩn. Sinh ra, nằm trong lòng mẹ, ngậm núm vú bú những giọt sữa đầu tiên là lúc vi khuẩn bắt đầu xâm nhập vào miệng, nếu mẹ không lau sạch nhũ hoa. Rồi từ đó, với sự ăn uống, chung đụng, vi sinh vật trong miệng tăng dần.

Nhiều người vẫn đinh ninh là miệng mình là nơi vô trùng, sạch sẽ, thơm tho, nhất là sau khi đánh răng, xúc miệng vài lần trong ngày. Nhưng tưởng vậy mà không phải vậy.

Vì rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng trong miệng của ta có cả vài ba trăm loại vi sinh vật thường trực trú ngụ, vãng lai. Có người ví miệng như một cánh rừng già với lúc nhúc cả nhiều trăm tỷ vi khuẩn. Nếu không giữ gìn vệ sinh răng miệng, thì số vi khuẩn trong miệng lên tới cả ngàn tỷ, nhiều hơn ở bất cứ nơi nào trong cơ thể, so với một diện tích nhỏ bé chỉ chứa được nắm tay trung bình.

Vậy thì làm sao mà chúng lại “xâm nhập xoang miệng bất hợp pháp” được như vậy?

Vi khuẩn, virus có khắp mọi nơi chung quanh ta: trong không khí, trong nước uống, trong rau thịt trái cây, trên da, trong cặn bã tiêu hóa. Một số gây ra bệnh, một số khác lành tính, hữu ích. Chúng vào miệng khi ta hé môi hít thở, khi ta ăn uống, khi miệng ngậm ngón tay dơ, hôn người có bệnh.

Thực tâm mà nói, không phải tất cả các vi khuẩn trong miệng đều gây ra bệnh mà chỉ có một số loại. Đó là các vi khuẩn nhuộm mầu dương tính (Gram-positive) Lactobaccillus, Streptococcus mutans, Streptococcus sanguis, Staphylococci, Actinomyces và nhiều vi khuẩn yếm khí, đặc biệt là loại gram-negative bacteroid và xoắn khuẩn spirochet.

Vào tới miệng, chúng chia nhau ẩn náu khắp nơi: khe kẽ răng, nướu, mặt lưỡi, họng. Có loại bám vào răng, có loại bám vào các phần mềm và tồn tại mãi mãi. Chúng sinh sống bằng những chất tiết ở miệng, những sợi thịt cá, những mảnh rau, trái cây nhất là chất tinh bột và đường, vướng mắc ở răng, ở lợi. Chỉ nửa giờ sau khi ăn mà những vụn thực phẩm này không được loại bỏ thì vi khuẩn sẽ bu vào, nhậu nhẹt. Và gây ra tai họa, bệnh tật.

Vi sinh vật nguy hại có thể gây ra bệnh tại chỗ, cho răng miệng hoặc xa hơn, tới các vùng khác của cơ thể, với các nguyên lý khác nhau. Theo nhiều nghiên cứu, các vi khuẩn này sản xuất ra 3 loại độc tố: ngoại độc tố đạm chất hòa tan trong nước có tác dụng như một loại enzym; nội độc tố, một thứ đường-đa polysaccharides nằm trong màng bọc vi khuẩn; và các phế phẩm do vi khuẩn chuyển hóa mà thành, như hợp chất bay hơi sulfur, các chất acid béo acid propionic, acid butyric, acid lactic…

Bệnh ở miệng

Bệnh tại chỗ thường thấy là những bựa răng (plaques), sâu răng (cavities), viêm nướu (gingivitis), viêm nha chu (periodontis).

a-Bựa Răng

Bựa là những màng sinh học phủ trên răng và gồm có cả triệu con vi khuẩn, hợp chất cao phân tử của nước miếng, các phế phẩm của vi sinh vật. Nếu không được lấy đi, các màng này càng ngày càng dày lên và trở thành cao răng (tartar), một lớp cặn vôi khá cứng và là nơi trú ẩn của rất nhiều vi khuẩn Streptococcus sanguis và Streptococcus mutans.

b-Sâu Răng

Trẻ em vẫn thường được cha mẹ nhắc nhở là ăn nhiều kẹo, nhiều đường sẽ bị sâu răng, sún răng. Nhưng thực ra đường không phải là thủ phạm, mà là tác nhân, tòng phạm hỗ trợ cho cho những thủ phạm vi khuẩn. Vi khuẩn tiêu thụ đường (nhất là sucrose) và tạo ra acit lactic và nhiều phế phẩm có độ acit khá cao. Các phế phẩm này ăn mòn men răng. Răng mất dần khoáng chất, trở thành lỗ chỗ. Thêm vào đó, cặn vôi càng dày thì nước miếng không lọt được vào để trung hòa chất chua, bảo vệ răng, răng càng hư hao thêm.

Cũng nên lưu ý là uống nước ngọt sủi bọt (sugared soda pop) lại càng làm răng mau hư hơn. Số là trong nước uống này vừa có nhiều chất ngọt lại có nhiều acid phosphoric, cho nên chất chua tai hại cho răng ở trong miệng gia tăng.

Vi khuẩn Streptococcus mutans là thủ phạm chính của sâu răng, rồi đến Lactobaccilli, Actinomyces và một số vi khuẩn biến hóa chất đạm khác (proteolytic bacteria)

c-Viêm nướu và nha chu

Nướu là lớp mô liên kết đặc và niêm mạc bao quanh chân và cổ răng.

Viêm nướu thường là do các mảng bựa ở mặt răng kích thích, làm cho sưng lên, đỏ, chảy máu và đau. Chữa ngay, bệnh sẽ hết nhưng nếu để lâu, sẽ đưa tới viêm nha chu với hư hao xương ổ răng và răng.

Hút thuốc lá, bệnh tiểu đường, tuổi cao, kém vệ sinh răng miệng, kém dinh dưỡng, khô miệng …là những rủi ro làm nướu bị viêm nhiều hơn.

Nha chu là các mô nâng đỡ, bảo vệ và nuôi dưỡng răng. Đó là xương răng (cementum), một lớp mô mỏng trên mặt chân răng; xương ổ răng (alveolair bone) và xương hàm; màng nha chu (periodontal membrane) và nướu.

Trong bệnh nha chu, các thành phần này đều bị vi khuẩn tấn công, làm hư hao. Bệnh thông thường nhất là viêm nha chu mãn tính ở lớp người trên 35 tuổi. Nướu răng sưng, đỏ chẩy máu, tách xa răng, mủ thành hình ở giữa răng và nướu, miệng có mùi hôi.

Biến chứng của viêm nha chu gồm có răng rụng. bệnh động mạch tim, bệnh tiểu đường, sinh con thiếu ký, tai biến não, bệnh hô hấp…

Bệnh xa miệng

Xoang miệng có liên hệ tới toàn bộ cơ thể. Do đó các bệnh của răng miệng có thể là biểu hiện của các bệnh tổng quát, đồng thời cũng có thể là nguồn gây ra một số bệnh của cơ thể.

Người bị viêm gan do virus thường có các màng trắng nhỏ trong miệng. Bệnh nhân liệt kháng HIV/AIDS hay bị nấm candida trong miệng. Bệnh nhân tiểu đường thường hay bị viêm nướu… Ngược lại, vi khuẩn gây bệnh răng miệng có thể ảnh hưởng vào các bộ phận khác qua sự lây lan vi khuẩn trong dòng máu và độc tố của chúng.

a-Bệnh Động mạch tim

Ngoài các nguy cơ cổ điển thường thấy như cao huyết áp, cao cholesterol, hậu quả của hút thuốc lá, bệnh động mạch tim còn do một số nguy cơ khác gây ra, trong đó có bệnh nha chu.

Kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy, người có bệnh nha chu đều bị bệnh tim mạch nhiều gấp đôi người bình thường.

Có nhiều lý thuyết để giải thich sự liên hệ này.

Một giải thích cho là vi khuẩn từ miệng lan vào dòng máu, bám vào các mảng chất béo ở động mạch tim, tạo ra máu cục, ngăn cản máu nuôi tế bào tim và đưa tới cơn suy tim.

Giải thích khác nói là những tạo phẩm của viêm nha chu có tác dụng trực tiếp lên lớp tế bào lót động mạch, gây ra sự xơ vữa động mạch này.

Một giải thích nữa căn cứ vào việc người bị nhiễm trùng miệng thường hay bị rụng răng. Không có răng, họ thường tránh những món ăn khó nhai và tiêu thụ món ăn có nhiều năng lượng và chất béo. Mà nhiều chất béo là rủi ro đưa tới bệnh tim mạch.

b-Viêm nhiễm trùng nội mạc tim

Bệnh xảy ra khi vi khuẩn trong máu bám vào van tim bất bình thường hoặc mô tim đã bị tổn thương. Tuy rất hiểm nghèo, nhưng may mắn là bệnh ít khi xảy ra ở người có trái tim lành mạnh. Nhiễm huyết thường là do các vi khuẩn mà cơ thể tiếp xúc trong sinh hoạt thường lệ, đôi khi cũng do vi khuẩn sau các phẫu thuật ở miệng, ruột, cơ quan hô hấp, cơ quan bài tiết nước tiểu.

Việc dùng kháng sinh để phòng bệnh trước khi nhổ răng, cạo bựa răng chỉ áp dụng khi bệnh nhân có các rủi ro về cấu tạo tim, như là có tiền sử viêm nội mạc tim, thay van tim nhân tạo, bệnh tim bẩm sinh.

Hội Tim Mạch Hoa Kỳ đề nghị là để tránh viêm nhiễm nội mạc tim do vi khuẩn từ miệng, cần giữ vệ sinh răng miệng và đi khám nha sĩ đều đặn theo định kỳ.

c-Bệnh phổi

Vi khuẩn trong miệng có thể được hít vào phổi rồi gây ra các bệnh hô hấp như sưng phổi, đặc biệt là người đang bị viêm nhiễm nướu. Sưng phổi là bệnh hiểm nghèo, nhất là ở người tuổi cao và người mà sức đề kháng suy yếu. Vi khuẩn thường gặp là Streptococcus pneumonia, Mycoplama pneumona và Hemophillus influenza, đôi khi các vi khuẩn yếm khí thuộc nhóm Actinomyces.

Bệnh nhân tiểu đường, người nghiện rượu thường bị viêm nướu với các vi khuẩn này rồi hít vi khuẩn vào phổi.

Bác sĩ Nha khoa, Hardy Limeback, Đại học Toronto, nhận thấy rằng người ở viện dưỡng lão ít đi khám nha sĩ bị tử vong nhiều hơn vì sưng phổi.

d-Bệnh tiểu đường

Kết quả nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy bệnh nhân tiểu đường loại 1 thường hay bị viêm nhiễm nha chu hơn là người bình thường vì cơ thể của họ dễ bị nhiễm trùng. Viêm nha chu cũng là một trong nhiều biến chứng của tiểu đường.

Ngược lại bệnh nha chu làm tăng đường huyết và tăng hậu quả xấu của bệnh chuyển hóa này.

e-Sanh non, con thiếu ký

Trong thời kỳ mang thai, có nhiều thay đổi hormon ở người mẹ. Các thay đổi này có thể đưa tới viêm nướu răng mà không cần phải có các mảng bựa răng.

Theo viện Nha Khoa Hoa Kỳ, phụ nữ mang thai mà bị viêm nha chu sẽ sanh con sớm hoặc con thiếu cân bẩy lần nhiều hơn

Bác sĩ Dasanavake AP, Đại học Nha Alabama cho hay, kém vệ sinh răng miệng ở phụ nữ mang thai là một rủi ro độc lập đưa tới sanh non và con thiếu cân, dưới 2500 gr.

Bác sĩ Steven Offenbacher, Trường Nha, đại học North Carolina tại Chapel Hill kết luận là 18,2% các trường hợp sanh non, thiếu ký có nguyên nhân từ các bệnh răng. Do đó hội Nha Chu Hoa Kỳ khuyên phụ nữ dự định có thai nên đi khám răng miệng đều đặn.

g-Bệnh loãng xương

Kết quả nghiên cứu công bố trong Journal of Periodontology tháng 6 năm 2007 cho hay, phụ nữ bị viêm nhiễm nha chu có nhiều khả năng hư hao xương ở xoang miệng, đưa tới rụng răng, nếu không điều trị.Tác giả nghiên cứu, bác sĩ Renee M. Brennan, Đại học Buffalo, đề nghị bổ sung estrogen để giảm rủi ro này.

Trong khi đó thì nghiên cứu do bác sĩ Brian H. Mullally, Đại học Queens, Bắc Aí Nhĩ Lan, cho hay nha chu của đa số phụ nữ đang dùng thuốc viên ngừa thai đều không được lành mạnh.

Kết luận

Từ năm 1998, Viện Nha Chu Hoa Kỳ đã phát động một chương trình hướng dẫn cho quần chúng về sự liên hệ giữa nhiễm trùng răng miệng với các bệnh viêm mãn tính như tiểu đường, tim mạch, sưng phổi…Do đó, điều trị viêm miệng không những giải quyết các bệnh tại chỗ mà còn giúp điều trị các bệnh liên hệ khác.

Đồng thời, giữ gìn vệ sinh răng miệng cũng rất quan hệ.

Hội Nha Hoa Kỳ nghị những biện pháp giản dị như sau:

– Đánh răng ít nhất hai lần mỗi ngày với kem có chất fluoride

– Thay bàn chải mỗi 3-4 tháng hoặc khi thấy đầu bàn chải tòe ra.

– Dùng sợi chỉ lau sạch kẽ răng để loại bỏ mảng bựa vi khuẩn dính ở đây, mà bàn chải không tới được. Nhiều giới chức y tế coi việc dùng chỉ răng quan trọng hơn là đánh răng với bàn chải.

– Dinh dưỡng cân bằng, đầy đủ. Giới hạn việc ăn vặt.

– Thăm nha sĩ theo định kỳ để khám rửa răng.

Ngoài ra để tránh vi sinh vật xâm nhập xoang miệng, nên rửa tay sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn uống, không nên đưa tay dơ vô miệng

Những lời khuyên xem ra cũng dễ làm và cũng không tốn kém gì cho lắm. Thực hiện được, không những tránh được bệnh tật mà còn có hàm răng trắng đẹp, giúp cho nụ cười tươi tỉnh, gương mặt bớt hom hem, dọng nói ít phì phò.

Đúng như các cụ ta vẫn nói: “Cái răng cái tóc là góc con người” vậy.

                                                                                                                              (nguồn : ST)