Ngày đăng

UNG THƯ PHỔI

Bệnh ung thư phổi có chữa được không?

Với câu hỏi bệnh ung thư phổi có chữa được không? chúng tôi có thể trả lời là có thể chữa được nếu được phát hiện sớm.

Mỗi một giai đoạn khác nhau của bệnh sẽ có những biểu hiện triệu chứng cũng như mức độ nguy hiểm khác nhau, tỉ lệ điều trị thành công của bệnh cũng theo đó mà bị thay đổi.

Đối với những người bệnh ở giai đoạn đầu nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời khả năng điều trị thành công là rất cao.

ung-thu-phoi-co-chua-duoc-khong

Ung thư phổi có thể điều trị được nếu phát hiện sớm

Lúc này các bác sĩ sẽ dựa vào tình trạng sức khỏe của người bệnh mà chỉ định phương pháp điều trị khác nhau, đối với những người bệnh ung thư phổi giai đoạn đầu nếu sức khỏe kém cũng không thể đảm bảo thực hiện được phương pháp phẫu thuật vì thế có thể thực hiện biện pháp hóa trị và xạ trị để giúp tiêu diệt tế bào ung thư một cách hiệu quả đồng thời giảm khả năng tái phát của bệnh.

Khi càng đến các giai đoạn sau thì tỉ lệ điều trị thành công của người bệnh cũng giảm, bởi khi đó các tế bào ung thư đã phát triển và lây lan sang các cơ quan khác khiến cho việc loại bỏ chúng trở nên khó khăn hơn.

Như vậy ung thư phổi có chữa được không không đơn thuần chỉ là dựa vào tình trạng bệnh mà còn phụ thuộc phần lớn vào thể trạng bệnh nhân như thế nào có đảm bảo đủ sức khỏe để thực hiện điều trị hay không, bởi trên thực tế các hậu quả trong quá trình điều trị có thể xảy ra bất cứ lúc nào, khiến cho tình trạng bệnh xấu đi từ đó tỉ lệ điều trị thành công cũng không cao.

Tuy nhiên đối vói ung thư phổi không phải tế bào nhỏ do việc xâm lấn chậm và bệnh có xu hướng phát triển chậm nên tỉ lệ điều trị khỏi là rất cao.

Ung thư phổi tế bào nhỏ lại ngược lại có xu hướng phát triển nhanh và có thể di căn xa khắp cơ thể, nên cho dù bệnh được chẩn đoán sớm thì tỉ lệ điều trị chữa khỏi cũng sẽ khó hơn bình thường.

Bên cạnh việc điều trị bệnh theo sự chỉ định của bác sĩ thì người bệnh cũng cần có một lối sống và sinh hoạt lành mạnh với những thực phẩm tốt đối với sức khỏe người bệnh, nghỉ ngơi và sinh hoạt hợp lý sẽ góp phần tăng tỉ lệ điều trị thành công và kéo dài sự sống cho người bệnh.

Ung thư phổi sống được bao lâu?

Tính đến thời điểm hiện tại thì ung thư phổi được xem là một trong những căn bệnh ung thư nguy hiểm và phổ biến nhất trên toàn thế giới chiếm đến hơn 20% số người mắc ung thư và tỉ lệ này còn tăng thêm 0,5% mỗi năm.

Ung thư phổi sống được bao lâu trên thực tế không thể trả lời một cách chính xác được, bởi tỉ lệ điều trị chữa khỏi là rất thấp bên cạnh đó còn phải dựa vào các yếu tố như thể trạng sức khỏe của người bệnh tại thời điểm phát hiện bệnh, giai đoạn mà người bệnh đang mắc phải là gì, phương pháp điều trị bệnh có phù hợp để mang lại hiệu quả tốt nhất hay không.

Nhưng theo môt thống kê sơ bộ về căn bệnh này cho thấy số người bệnh được phát hiện sớm và điều trị chữa khỏi bệnh có thể sống được 5 năm chỉ chiếm 15%. Như vậy với con số này có thẻ thấy đây là bệnh rất nguy hiểm và có tỉ lệ sát thương rất cao.

Ngày đăng

15 dấu hiệu cảnh báo bệnh ung thư

15 dấu hiệu cảnh báo bệnh ung thư

Đa số mọi người khi phát hiện ra mắc bệnh ung thư là ở giai đoạn muộn, do đó việc điều trị trở nên khó khăn. Thực chất, có những dấu hiệu cảnh báo xuất hiện sớm trên cơ thể mà bạn cần biết, để đi khám bệnh sớm nhằm phát hiện bệnh ung thư ở giai đoạn đầu.

+ Sự thay đổi bất thường trên da

Nếu bạn thấy xuất hiện trên da những đốm mọc bất thường về hình dáng, kích thước, màu sắc… nhìn không giống như những đốm khác trên cơ thể, bạn nên đến gặp bác sĩ chuyên khoa để kiểm tra.
Xuất hiện nốt bất thường trên da

+ Ho dai dẳng, kéo dài

Hiếm khi ho dai dẳng, kéo dài lại là dấu hiệu cảnh báo ung thư, thường các dấu hiệu này là do chảy dịch sau mũi, hen suyễn, nhiễm trùng…  nhưng nếu sau khi được điều trị mà bệnh không thuyên giảm hoặc ho ra máu, nhất là khi bạn không phải là người hút thuốc lá thì nên đến gặp bác sĩ, có thể bạn sẽ làm các xét nghiệm, chụp chiếu…cận lâm sàng để kiểm tra có mắc bệnh ung thư phổi không?

+ Biến đổi bất thường ở vùng vú

Nếu vùng vú có các dấu hiệu: đau, chảy dịch, chảy máu ở núm vú, có vệt đỏ hoặc dày lên… đó là những cảnh báo quan trọng, dù không phải tất cả các trường hợp đều là ung thư vú, bạn cũng nên đến bác sĩ để kiểm tra và chẩn đoán bệnh ung thư vú sớm..

+ Đầy hơi, trướng bụng

Khi bạn bị stress, rối loạn tiêu hóa do chế độ ăn uống, bạn có thể bị trướng bụng, đầy hơi… nhưng nếu triệu chứng này không thuyên giảm kèm theo bạn bị mệt mỏi, đầy hơi, đau lưng thì nên kiểm tra ngay. Phụ nữ thường xuyên bị đầy hơi, trướng bụng cũng là dấu hiệu cần phải nghĩ đến là ung thư buồng trứng… cần đến bác sĩ để được khám nghiệm tìm nguyên nhân.

+ Đi tiểu bất thường

Đàn ông có tuổi thường hay gặp vấn đề đường tiết niệu như đi tiểu lắt nhắt, nhiều lần… thường là dấu hiệu của phì đại tiền liệt tuyến, nhưng cũng có thể là ung thư, bạn cần đến bác sĩ kiểm tra để được phát hiện bệnh sớm.
+ Nổi hạch to trên cơ thể

Hãy nói cho bác sĩ của bạn biết nếu bạn nhìn thấy những hạt nhỏ cứng, hình hạt đậu… sưng, nổi to lên ở cổ, nách, háng hoặc nơi nào đó trên cơ thể – cũng có thể là bạn bị nhiễm trùng do cảm lạnh, viêm họng do streptococcus – nhưng cũng có thể là bạn bị bệnh bạch cầu, ung thư máu. Do đó, cần phải kiểm soát sớm.

+ Đại, tiểu tiện ra máu

Đi tiểu ra máu cũng có thể là do bị trĩ nhưng cũng là dấu hiệu của ung thư ruột kết. Đi tiểu ra máu có thể là do nhiễm khuẩn đường tiết niệu nhưng cũng phải nghĩ đến thận, ung thư bàng quang. Do vậy, bạn nên đến bác sĩ chuyên khoa để kiểm tra một cách kỹ càng.

+ Tinh hoàn bất thường

Đến bác sĩ ngay nếu bạn thấy tinh hoàn có khối u hoặc sưng lên. Thông thường thì ung thư tinh hoàn có những khối u nhô lên không đau, cảm giác nặng ở bụng dưới hoặc ở bìu.
+  Nuốt khó

Cảm cúm thông thường, trào ngược dạ dày thực quản do tăng tiết dịch vị hoặc khi bạn sử dụng một số thuốc… sẽ làm bạn khó nuốt, vướng vùng hầu họng… Nhưng nếu triệu chứng trên không biến chuyển tốt khi bạn đã điều trị bằng các thuốc antacid thì nên đến bác sĩ để được tư vấn. Nuốt khó cũng là dấu hiệu cảnh báo ung thư vòm họng, ung thư thực quản…

+ Xuất huyết âm đạo bất thường

Ra máu bất thường ở âm đạo mà không phải ở chu kỳ kinh nguyệt, ra máu sau quan hệ tình dục hoặc dịch âm đạo có máu… có thể nghĩ đến u xơ tử cung, do tác dụng ngoại ý của một số thuốc ngừa thai… nhưng cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo ung thư tử cung, âm đạo. Nếu bạn đã mãn kinh nhưng vẫn xuất huyết bất thường thì đây chính là dấu hiệu bạn cần phải đến bệnh viện khám ngay.

+ Mảng trắng, đỏ ở miệng

Hầu hết các thay đổi ở vùng miệng, hơi thở hôi, viêm loét miệng… không nghiêm trọng, nhưng nếu xuất hiện những mảng trắng, đỏ, đau mà không thể lành được sau 2 tuần, nhất là khi bạn có hút thuốc thì nên đến gặp bác sĩ ngay vì đó chính là dấu hiệu của ung thư họng. Bạn cũng cần lưu ý thêm nếu thấy khối u nổi lên trong má, hàm cử động khó khăn, đau.

+ Sụt cân trên 5kg/tháng không rõ nguyên nhân

Đương nhiên là bạn sẽ giảm cân khi ăn kiêng, luyện tập thể dục thể thao hoặc bị một bệnh lý nào đó như: stress, bướu cổ… nhưng sẽ là bất thường nếu bạn bị sụt khoảng 5kg/tháng mà không biết vì nguyên nhân gì. Đây cũng có thể là dấu hiệu tiên khởi của ung thư tụy, ung thư dạ dày, thực quản hoặc ung thư phổi.
+ Sốt không đáp ứng với điều trị thông thường

Sốt là phản ứng của cơ thể để chống lại một nhiễm khuẩn nào đó, cũng có thể là do tác dụng ngoại ý của một loại thuốc nào đó mà bệnh nhân đang dùng… Không phải quá lo lắng, nhưng nếu sốt không thuyên giảm, không đáp ứng với các điều trị thông thường, không rõ nguyên nhân… thì ung thư máu là điều cũng phải nghĩ đến.
+ Nóng rát vùng thượng vị, khó tiêu

Hầu như ai cũng có lúc gặp phải chứng khó tiêu, nóng rát vùng thượng vị do chế độ ăn uống, stress… nhưng khi bạn đã thay đổi lối sống mà các biểu hiện trên vẫn không cải thiện, bạn nên đến bác sĩ để được thăm khám tìm nguyên nhân. 

+ Mệt mỏi, suy nhược kéo dài

Trong cuộc sống có nhiều điều khiến bạn mệt mỏi nhưng nếu bạn thường xuyên mệt mỏi, suy nhược, nghỉ ngơi, ăn uống hợp lý… cũng không làm bạn hồi phục thì nên đến gặp bác sĩ để được chăm sóc và điều trị. Mệt mỏi, suy nhược kéo dài là một trong những dấu hiệu cảnh báo của bệnh bạch cầu, ung thư kết tràng, ung thư dạ dày…

Ngày đăng

Những lý do khiến bạn không nên uống nước lạnh

Những lý do khiến bạn không nên uống nước lạnh

Nước lạnh ( nước đá) là một trong những thứ nước chúng ta rất thích uống vào dịp nắng nóng. Có khả năng làm dịu mát cơ thể của chúng ta nhưng việc uống nước lạnh lại gây ra những tác hại không ngờ cho sức khỏe.

+ Nước lạnh khiến nhịp tim ta giảm

Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc uống một lượng nước với nhiệt độ thấp hơn nhiều so với cơ thể sẽ kích thích các dây thần kinh phế vị. Chúng là các dây thần kinh điều khiển các hoạt động không kiểm soát của cơ thể như co giật, động kinh… Các nhà khoa học thấy rằng, khi chúng bị kích thích, nhịp tim của chúng ta sẽ giảm theo, gây tăng huyết áp, đau tim.

+ Nước lạnh khiến cổ họng dễ bị đau

Nhiệt độ lạnh của nước có thể khiến các tuyến tiết dịch trong cổ bị giảm hoạt động, do đó cổ họng bạn rất dễ bị khô, dễ dàng tích tụ bụi bẩn và các vi khuẩn trong niêm mạc đường hô hấp. Một khi lớp niêm mạc này bị bám vi khuẩn, nguy cơ đau cổ họng của bạn là rất cao.

+ Nước lạnh giảm dinh dưỡng thực phẩm

Trong quá trình tiêu hóa, thức ăn sẽ được nghiền nát ở 37 độ C, tuy nhiên, việc uống nước lạnh sẽ khiến môi trường trong dạ dày hạ thấp đi, do đó ảnh hưởng đến hấp thụ các chất dinh dưỡng của đường tiêu hóa.

+ Nước lạnh cản trở tiêu hóa

Không chỉ làm lạnh môi trường dạ dày, nước lạnh, nhất là nước đá sẽ làm co các mạch máu ở thành đường tiêu hóa khiến cho cơ thể sẽ khó hấp thụ thức ăn, gây khó tiêu, thậm chí là mất nước.

Ngày đăng

Những cách giúp tẩy độc cho cơ thể

Mùa hè là thời điểm thích hợp để tẩy độc cơ thể. Tẩy độc là làm sạch hệ tuần hoàn và nuôi dưỡng cơ thể từ bên trong. Bằng việc tách và loại bỏ các độc tố, sau đó nạp vào cơ thể các chất dinh dưỡng, quá trình giải độc có thể giúp bạn tránh được bệnh tật và tái tạo khả năng tối ưu hóa sức khỏe, theo bodyandsoul.


Chọn các loại thực phẩm tươi trong thời gian tẩy độc cơ thể – Ảnh: Shutterstock

Cắt giảm thực phẩm chế biến sẵn

Nguyên tắc đầu tiên của tẩy độc là cắt giảm các loại thực phẩm chế biến sẵn – loại thực phẩm vốn khiến hệ tiêu hóa làm việc “khó khăn”; như: thực phẩm chế biến có đường, trái cây sấy khô, cà phê và rượu.
Ngoài ra, cần bổ sung vào chế độ ăn uống lành mạnh các loại thực phẩm, đồ uống như sữa hay các sản phẩm ngũ cốc.

Ăn thực phẩm tươi

Tẩy độc có nghĩa là phải bỏ đói chính mình. Bỏ đói không có nghĩa là không ăn gì mà thay vào đó là phong phú hóa khẩu phần bằng các loại thực phẩm tươi sống như trái cây tươi và rau quả, cá, trứng, các loại đậu, dầu ô liu, các loại hạt thô và hạt. Thỉnh thoảng, có thể bổ sung thịt đỏ hoặc thịt gà nấu chín nếu cảm thấy thèm chất đạm.

Thêm nước

Duy trì lượng nước uống hằng ngày. Tuy nhiên, cần uống nhiều nước hơn bình thường, khoảng 3 lít nước mỗi ngày để khuyến khích cơ thể dùng nước đẩy độc tố ra khỏi cơ thể.
Các loại trà thảo dược cũng được khuyến khích như nhân sâm, gừng…

Nghỉ ngơi

Bắt đầu một ngày mới với ly nước ấm pha chanh để kích hoạt hệ tiêu hóa. Sau đó, sử dụng một bàn chải mềm để chà xát cơ thể trước khi tắm giúp thúc đẩy lưu thông máu.
Nhắm mắt lại trong vòng 10 phút, tập trung thở dài và sâu.

Tập luyện nhẹ nhàng

Trong thời gian tẩy độc cơ thể, không cần tập thể dục nặng. Chỉ cần tập nhẹ vì chế độ ăn uống tẩy độc có thể khiến cơ thể bạn mất năng lượng, chính vì thế không đủ năng lượng để cơ thể vận động nặng. Hãy thử các bài tập nhẹ nhàng như yoga hoặc đi bộ nhanh trong thời gian này.

Ngày đăng

Chế độ ăn giúp người bị sốt xuất huyết nhanh khỏe mạnh

Bệnh nhân mắc sốt xuất huyết (SXH) ăn uống sẽ kém đi do thể trạng sốt cao, mệt mỏi. Chuyên gia dinh dưỡng ThS.BS Lê Thị Hải tư vấn chế độ ăn giúp phục hồi sức khỏe cho người bệnh SXH.

1. Quan trọng nhất là bù nước

 

ThS. BS Lê Thị Hải, Nguyên Giám đốc Trung tâm Khám tư vấn Dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho rằng, do đặc điểm của bệnh SXH là bệnh nhân sốt cao, mệt mỏi nên ăn uống sẽ kém đi. Đặc biệt, trong SXH sợ nhất là tình trạng sốc, thoát huyết tương ra ngoài gây tình trạng cô đặc máu cho nên trong chế độ ăn uống cho người SXH quan trọng nhất là bù nước, điện giải như uống oresol.

Do bệnh nhân sốt cao kèm mất nước nên cần phụ nước đầy đủ, người bệnh nên uống các loại nước trái cây, nước quả ép (như cam, bưởi, nước chanh, nước dừa) vì chúng chứa nhiều khoáng chất và vitamin C tăng cường sức đề kháng, giúp thành mạch bền tốt hơn sẽ làm tình trạng bệnh giảm đi.

Theo kinh nghiệm, có thể nghiền lá đu đủ, sau đó lọc chắt lấy nước uống cũng có tác dụng tốt cho bệnh nhân SXH.

2. Ăn thức ăn dạng lỏng

Về chế độ ăn, ThS. Hải khuyên, bệnh nhân cần ăn những thức ăn lỏng và mềm như: ăn cháo, soup vừa giàu dinh dưỡng lại dễ hấp thu, có thể uống thêm sữa. Không nên ăn cơm, đồ cứng khó nuốt.

Đặc biệt với trẻ em bị SXH, sữa là nguồn dinh dưỡng quan trọng nhất, nếu trẻ còn bú mẹ thì nên tiếp tục cho con bú. Khi cho trẻ ăn uống nên chia nhỏ bữa ăn và nước uống ra, không nên cho ăn dồn dập. Tích cực bổ sung các món ăn giàu chất đạm từ trứng, thịt, sữa… thực phẩm giàu vitamin A, giàu kẽm (thịt bò, gà…) tăng sức đề kháng chống lại bệnh SXH.

3. Kiêng thức ăn nhiều dầu mỡ

Theo ThS. Hải, SXH hiện chưa có vắc-xin phòng bệnh, thuốc đặc hiệu, do đó chế độ dinh dưỡng chăm sóc đóng vai trò cực kỳ quan trọng bởi lẽ khi sức đề kháng kém thì bệnh sẽ nặng hơn, sợ nhất là gây sốc cho bệnh nhân.

Với người bệnh SXH, cần kiêng những loại thức ăn nhiều mỡ béo, các thực phẩm xào rán, có gia vị chua cay vì chúng thường gây khó tiêu; còn lại không kiêng tuyệt đối thứ gì cả. Nên ăn cân đối đầy đủ dinh dưỡng, nhất là thực phẩm cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất…

4. Cho trẻ ăn “trả bữa”

Trẻ mắc SXH nếu đã khỏi sốt và chơi bình thường rồi thì nên tuân theo chế độ ăn như bình thường. Tùy theo độ tuổi của bé, nếu bé còn bú mẹ thì mẹ phải tăng cường dưỡng chất, nếu bé ăn dặm thì ăn “trả bữa” bổ sung cho bé để tăng cân, bù lại mất dinh dưỡng trong thời gian bé bị ốm, tránh tình trạng nhẹ cân suy dinh dưỡng sau này.

Thời gian mới ốm dậy, trẻ có thể ăn chưa ngon miệng, phụ huynh nên chia nhỏ bữa ăn ra, cho ăn các loại cháo soup bù năng lượng thiếu hụt, tăng số bữa lên…

Chú ý là cha mẹ cần kiên trì nấu nướng các món ăn thay đổi khẩu vị, nên hỏi trẻ lớn để có món ăn hợp khẩu vị của trẻ. Các món ăn ưu tiên là giàu vitamin D, A, kẽm, sắt, khoáng chất… có thể nấu cháo cà rốt, thịt gà, uống nước quả cam, quýt, sinh tố… nhằm giúp trẻ tăng cường sức khỏe.

                      

Ngày đăng

Thực phẩm cho người bị viêm khớp

Bệnh viêm khớp do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có nguyên nhân từ thức ăn. Có những loại thức ăn làm cho bệnh tăng nặng và ngược lại cũng có nhiều loại thực phẩm giúp cho bệnh giảm nhẹ.

Dùng các thực phẩm giàu acid béo có ích:

Axít béo omega-3: chất này có tác dụng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, làm giảm hẳn các triệu chứng viêm đau khớp. Một vài nghiên cứu cho thấy: nếu bệnh nhân bị viêm khớp được sử dụng dầu cá với liều từ 2 – 5g/ngày, kết quả là các khớp tổn thương bớt cứng và giảm đau rõ rệt. Ngoài ra, omega-3 còn rất hữu ích cho thai phụ, các bà mẹ đang cho con bú, bệnh nhân tim mạch, viêm gan mãn tính, hen phế quản, bệnh thận IgA, bệnh Crohn, người cao tuổi…

Thực phẩm chứa axít béo Omega-3

Axít béo omega-6 GLA (acid gamma-linolenic): có tác dụng ức chế sự sản sinh ra prostaglandin gây viêm. Nghiên cứu cho thấy khi dùng với liều 1 – 3g/ngày cho kết quả khả quan đối với bệnh viêm khớp. Song khó khăn hiện nay là nguồn thuốc tổng hợp loại axít béo này còn trong tình trạng “hiếm có khó tìm” hoặc còn “đắt đỏ”. Tuy nhiên, bạn vẫn có thể dùng nó bằng cách sử dụng viên nang 400mg tảo khô Spirulina. Người bị thấp khớp nên dùng 10g bột tảo khô mỗi ngày (tương đương 90mg axít GLA). Các nghiên cứu cho thấy khi ăn chế độ ăn nhiều omega-3 (thủy hải sản) thì thấy omega-3 thay thế omega-6 trong cấu trúc màng của tất cả các tế bào (tế bào thần kinh, hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, tế bào nội mạc mạch máu, tế bào gan…). Sự cạnh tranh giữa omega-3 và omega-6 đã làm giảm hẳn các chất trung gian gây viêm, các yếu tố làm khởi phát và gây rối loạn miễn dịch. Một chế độ ăn lý tưởng nhất cho sự phát triển và hoạt động của não, cho chức năng sinh lý màng tế bào, chức năng miễn dịch và bảo vệ của cơ thể là tỉ lệ axít béo omega-3/omega-6 là từ 1 – 3/1.

Hiện nay thị trường trong nước và nước ngoài đã có bán ba loại thuốc là viên dầu cá omega-3, omega-6 và viên tổng hợp cả omega-3 và omega-6, bạn có thể mua dùng. Nhưng trước khi muốn dùng, bạn nên tuân theo lời khuyên của bác sĩ, bởi bên cạnh những cái lợi do chất omega-3, omega-6 mang lại, bạn cũng cần biết rằng khi dùng dầu cá liều cao sẽ bị ảnh hưởng đến quá trình đông máu của cơ thể, và tương tác có hại với một số loại thuốc chữa bệnh khác.

Nếu bạn không có điều kiện hoặc chưa tìm mua được các thuốc tổng hợp này, bạn thực hiện chế độ ăn với các thực phẩm giàu các chất omega-3, omega-6 để phòng chữa bệnh. Thực phẩm chứa nhiều axít béo omega-3 là cá, đặc biệt là mỡ cá, các loại cá thu, cá ngừ, các trích, cá mòi, cá trống, cá hồi, tôm, cua, tảo, sinh vật phù du… Omega-6 có trong thịt động vật, có hầu hết ở các loại dầu thực vật. Bởi vậy ngày thường cũng như dịp tết, các bà, các chị đi chợ nên mua các loại cá tôm cua giàu chất omega-3 nói trên và các loại thịt: gà, vịt, thịt lợn nạc, thịt bò, dầu thực vật, vừng, lạc, đậu nành… giàu chất omega-6 để phòng chữa bệnh viêm khớp cho người thân của mình.

Người bị viêm khớp nên ăn trái cây chín các loại

Người viêm khớp nên ăn các món thịt nạc, cá tôm cua có chất béo có ích như: giò nạc, giò bò, thịt gà luộc, gà rang, thịt lợn nạc luộc, kho, sốt cà chua; thịt bò xào, bò kho, lẩu bò, lẩu hải sản, các loại cá, tôm, cua…; canh rau xanh và trái cây chín các loại, uống nước chè xanh, nước đun sôi để nguội. Không nên ăn các món thịt mỡ, các chất khó tiêu như: thịt đông, nem (bì lợn), món ninh (thịt mỡ lợn thái miếng vuông to ninh nhừ), giò mỡ, giò thủ, giò tai, bánh chưng bánh tét nhân thịt mỡ, các loại nội tạng động vật như: tim, gan, cật, lòng, mề…; không uống rượu mạnh, cà phê đặc, trà đậm để phòng chống bệnh gút.

Cung cấp đầy đủ các vitamin:

Tác dụng chống oxy hóa của các vitamin C, D, E và beta-carotene (tiền vitamin A) có thể giúp phòng tránh được một số dạng viêm khớp. Nhiều nghiên cứu cho thấy: vitamin C và D có khả năng làm giảm bệnh viêm xương khớp; chỉ với liều nhỏ dưới 150mg vitamin C (tương đương lượng sinh tố của 2 ly cam vắt) và 400 đơn vị quốc tế (IU) vitamin D/ngày có khả năng làm chậm hẳn sự tiến triển của bệnh viêm khớp gối. Người ta cũng đã chứng minh các thức ăn chứa nhiều vitamin E có tác dụng giảm đau chống viêm. Chất beta-carotene có nhiều trong cà rốt, cà chua, bí đỏ, rau xanh, các loại trái cây, rau củ có màu đỏ cũng có tác dụng giảm viêm khớp. Do đó, bệnh nhân viêm khớp các dạng cần bảo đảm chế độ dinh dưỡng đầy đủ các vitamin nói trên, ăn nhiều rau tươi và trái cây chín sẽ có tác dụng phòng và chữa bệnh hiệu quả mà không độc hại.

Dùng thực phẩm có tác dụng phòng tránh loãng xương:

Canxi là một nguyên tố chính yếu cấu thành xương, mỗi ngày cơ thể cần khoảng 1.200mg canxi. Khi xương chắc khỏe sẽ chống đỡ tốt với quá trình viêm mà giảm bệnh. Thức ăn chứa nhiều canxi bao gồm: sữa, các sản phẩm từ sữa, các loại rau xanh, các loại thủy hải sản như: tôm cua, các loại cá nhỏ để ăn nguyên xương cũng cung cấp một lượng canxi đáng kể. Đậu nành có hoạt chất genistein được xem như là hoóc-môn estrogen thực vật, góp phần quan trọng giúp cho xương chắc khỏe. Vận động và tắm nắng thường xuyên cũng giúp tăng tạo vitamin D giúp hấp thu và chuyển hóa canxi trong cơ thể.

 
Ngày đăng

Ung thư đại trực tràng có thể phát hiện sớm và điều trị khỏi

Ung thư đại trực tràng (colon rectal cancer) hay còn gọi là ung thư ruột già là loại ung thư hay gặp đứng hàng thứ 2 ở nữ và hàng thứ 3 ở nam giới trên thế giới [1]. Đây là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 sau ung thư phổi, ung thư dạ dày và ung thư gan trên thế giới [2]. Tại Việt Nam cũng tương tự như vậy, ung thư đại tràng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 sau ung thư dạ dày, ung thư phổi và ung thư gan [3].

Ung thư đại trực tràng là một trong những ung thư đường tiêu hóa có tiên lượng tốt, tuy nhiên, nếu được phát hiện muộn thì cũng giống như tất cả các loại ung thư khác, khả năng điều trị ít hiệu quả. Vì vậy, cần phát hiện khi ung thư còn ở giai đoạn sớm hoặc các tổn thương tiền ung thư. Nếu phát hiện ung thư đại tràng ở giai đoạn sớm có nghĩa là khi tế bào ung thư chỉ nằm tại lớp niêm mạc, thì có thể áp dụng phương pháp nội soi cắt tách dưới niêm mạc (Endoscopic Submucosal Dissection- ESD ) lấy bỏ toàn bộ vùng ung thư tại lớp niêm mạc mà vẫn giữ nguyên được đại trực tràng (Phương pháp này làm tương tự như đối ung thư dạ dày sớm: xem trong bài cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi điều trị ung thư dạ dày sớm và  tiền ung thư).Sau khi cắt tách niêm mạc bệnh nhân khỏi hoàn toàn mà không phải chịu phẫu thuật cắt bỏ đoạn đại tràng, đồng thời bệnh nhân không phải dùng tia xạ hoặc hoặc hóa chất để điều trị.

Ung thư đại tràng trực tràng có thể gặp ở bất cứ vị trí nào của đại tràng: trực tràng, đại tràng sigma, đại tràng xuống, đại tràng ngang, đại tràng lên và manh tràng. Đại tràng sigma và trực tràng tương ứng với vùng hạ vị hay vùng trên xương mu và dưới rốn. Đại tràng xuống tương ứng với bên trái của ổ bụng. Đại tràng ngang tương ứng với vùng dưới mũi ức và trên rốn hay vùng thượng vị. Đại tràng lên tương ứng với vùng bên phải của ổ bụng. Manh tràng tương ứng với hố chậu phải hay ngang với bên phải của rốn. Khoảng 42% ung thư đại tràng nằm tại vị trí đại tràng phải, bao gồm: manh tràng, đại tràng lên, đại tràng ngang, gần 60 % ung thư năm tại đại tràng trái bao gồm: đại tràng xuống, đại tràng sigma và trực tràng [4].

Ung thư thư đại trực tràng biểu hiện như thế nào?

Ung thư đại tràng điển hình biểu hiện bằng đi ngoài ra máu, ỉa lỏng phân lẫn máu như máu cá nhưng cũng có khi ỉa nhiều máu, đau bụng. Tùy theo vị trí của ung thư mà có vùng đau tương ứng khác nhau. Bệnh nhân có thể ỉa lỏng ngày một hoặc nhiều lần, cũng có thể  táo bón: 2 hoặc hoặc 3 ngày đi ngoài một lần phân cứng hoặc phải rặn nhiều khi đại tiên, khuân phân có thể nhỏ hơn bình thường. Gầy sút là biểu hiện muộn, có thể chán ăn, buồn nôn. Đối với ngời lớn tuổi (>50 tuổi) khi có đại tiện phân máu thì trước khi chẩn đoán bị bênh trĩ bao giờ cũng phải loại trừ người đó có ung thư đại trực tràng hay không.

Những nguyên nhân gì gây ung thư đại trực tràng? 

Cho tới nay cũng giống như nhiều loại ung thư khác người ta cũng chưa biết được nguyên nhân gây ung thư đại trực tràng. Trên 75-95% ung thư đại trực tràng xuất hiện ở những người mà không có liên quan tới yếu tố về gen [5],[7]. Phần lớn ung thư đại trực tràng xuất hiện từ các polyp ung thư hóa. Polyp tuyến là loại hay ung thư hóa khi mà kích thước > 1cm.

Những người mà có bố mẹ và anh em ruột bị ung thư đại trực tràng thì khả năng người đó bị ung thư đại trực tràng cao gấp 2-3 lần so với người không có tiền sử gia đình bị ung thư đại trực tràng.

Các yếu tố nguy cơ gây ung thư đại trực tràng: nam giới hay bị hơn nữ, người lớn tuổi hay bị hơn so với người trẻ tuổi [7]. Ung thư đại tràng tăng dần theo tuổi. Tại Hoa Kỳ chỉ khoảng 0,1 % ung thư đại trực tràng được chẩn đoán ở tuổi 20, 1,1% ở tuổi 20-34, 4% ở tuổi 35-44, 13,4% ở tuổi 45-54, 20,4% ở tuổi 55-64, 24% ở tuổi 65-74, 25% ở tuổi 75-84 và 25% ở tuổi 85 [6]. Như vậy, 94,9% ung thư đại trực tràng đươc chẩn đoán ở tuổi trên 45. Chế độ ăn nhiều chất béo, ăn nhiều thịt đỏ, uống nhiều rượu, béo phì, hút thuốc lá, ít vận động thể lực cũng là các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng ung thư đại trực tràng [7]. Khoảng 10% số trường hợp ung thư  đại trực tràng liên quan tới ít vận động [8]. Nguy cơ ung thư đại trực tràng tăng lên khi một ngày uống trên 2 đơn vị cồn với nam và 1 đơn vị cồn với nữ (theo tiêu  chuẩn 1 đơn vị cồn của Hoa Kỳ tương đương 14g ethanol, bằng khoảng 300 ml bia 5 độ và  khoảng 120 ml rượu vang 12 độ) [9]. Ăn nhiều rau quả tươi và nhiều chất xơ làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng [5].

Làm cách nào phòng được ung thư đại trực tràng?

Phần lớn ung thư đại trực tràng xuất hiện ở những người trên 50 tuổi. Chính vì vậy cần tiến hành soi đại tràng cho tất cả mọi người ở lứa tuổi > 50, kể cả những người không có triệu chứng. Nếu soi đại tràng hoàn toàn bình thường và không có polyp thì sau mười năm mới phải soi lại.

–  Những  người có nguy cơ cao ung thư đại trực tràng:  khi  soi đại tràng phát hiện có từ 3-10 polyp loại tuyến ống (tubular adenomas) trở lên hoặc có loạn sản mức độ cao hoặc polyp loại nhung mao hoặc loại ống tuyến nhung mao hoặc polyp có kích thước ³ 1 cm bệnh nhân cần được soi lại tại thời điểm 3 năm sau đó. Nếu có > 10 polyp tuyến cần soi lại  trong vòng trước 3 năm. Đối polyp răng cưa (serrated polyp) ³ 1cm soi lại tại thời điểm 3 năm sau đó [10].

–  Những người ít có nguy cơ ung thư đại trực tràng: khi soi đại tràng phát hiện có 1-2 polyp  loại tuyến ống, hoặc polyp kích thước nhỏ <1 cm và không có loạn sản  mức độ cao, những bệnh nhân này soi đại tràng lại sau 5-10 năm. Đối polyp răng cưa < 1 cm và không có loạn sản soi lại tại thời điểm 5 năm sau đó. Đối với trường hợp polyp tăng sản (hyperplastic polyp) bệnh nhân cần soi lại tại thời điểm 10 năm  sau đó [10].

–  Những người có tiền sử gia đình: bố mẹ, anh em ruột và con bị ung thư đại trực tràng cần soi đại tràng để sàng lọc ở tuổi 40 hoặc trước 10 năm so với tuổi của người thân bị ung thư đại trực tràng [11].

–  Những người bị viêm loét đại tràng chảy máu hoặc bị bệnh Crohn: cần soi đại tràng hàng năm kể từ năm thứ 8 khi phát hiện bị tổn thương toàn bộ đại tràng hoặc từ năm thứ 12 đối với tổn thương toàn bộ đại tràng trái. Để phát hiện những tổn thương loạn sản [11].

–  Những người bị hội chứng polyp có tính chất gia đình (Familial adenomatous polyposis -FAP)  cần soi đại tràng hàng năm [11].

Những người bị ung thư đại tràng sau mổ phải kiểm tra nội soi như thế nào ?

–  Đối với bệnh nhân ung thư đại trực tràng mà trước khi mổ chưa được nội soi đại  tràng toàn bộ vì các lý do khác nhau như: phải mổ cấp cứu do có tắc ruột hoặc chưa soi hết đại tràng vì bán tắc ruột…, thì sau khi mổ 3 – 6 tháng phải được soi đại tràng toàn bộ để phát hiện những vị trí ung thư khác tại đại tràng. Nếu hình ảnh nội bình thường, bệnh nhân cần nội soi lại ở thời điểm 1 năm, 3 năm và 5 năm sau khi được phẫu thuật [12]. Nếu  khi soi phát hiện thấy có polyp thì việc  theo dõi sẽ theo hướng dẫn về polyp phần trên.

–  Đối với bệnh nhân ung thư đại trực tràng mà trước khi mổ đã được nội soi đại  tràng toàn bộ: bệnh nhân cần nội soi lại ở thời điểm 1 năm, 3 năm và 5 năm sau khi được phẫu thuật [12].

–  Đối với bệnh nhân ung thư trực tràng: bệnh nhân cần được soi đại tràng sigma cứ 3- 6 tháng 1 lần trong 2 năm đầu [9].

Nội soi đại tràng toàn bộ có nguy hiểm, gây đau và gây khó chịu cho bệnh nhân không?

Nếu nội soi đại tràng toàn bộ không có thuốc giảm đau, tiền mê và gây mê thì bệnh nhân rất đau và khó chịu. Phần lớn bệnh nhân đã soi đại tràng mà không có tiền mê và gây mê thì không muốn nội soi đại tràng lại lần 2. Để phóng tránh được ung thư đại tràng thì phương pháp tốt nhất là phải nội soi đại tràng toàn bộ. Ngày nay, phần lớn bệnh nhân soi đại tràng tại khoa Tiêu hóa bệnh viện Bạch Mai được nội soi tiền mê bằng fentanyl phối hợp cùng midazolam hoặc gây mê bằng propofol. Đây là phương pháp nội soi đại tràng rất an toàn và không có hại cho sức khỏe của bệnh nhân, điều này đã được Hội nội soi Tiêu hóa Hoa Kỳ chấp nhận [13], đồng thời, người bệnh cảm thấy không khó chịu khi nội soi. Vì vậy, khi cần phải nội soi đại tràng lại theo định kỳ người bệnh dễ dàng chấp nhận.

Chuẩn bị  trước và sau nội soi đại tràng như thế nào?

Bữa tối trước ngày soi đại tràng bệnh nhân ăn bình thường, nhưng không ăn rau và chất xơ

–  Đối với người đại tiện hành ngày bình thường: bệnh nhân uống thuốc rửa ruột trong khoảng 3 giờ.

–  Đối với người bị táo bón: cần uống thuốc nhuận tràng làm mềm phân trong 3-4 ngày để giúp bệnh nhân  đi ngoài bình thường trước khi soi.

–  Đối với bệnh nhân nghi bán tắc ruột: như đau bụng thành cơn, không đại tiện được không được cho dùng thuốc rửa ruột mag phải thụt tháo làm sạch đại tràng trước khi soi.

–  Đối với những người trên 50 tuổi nên xét nghiệm công thức máu và đông máu trước khi nội soi, vì nếu phát hiện có polyp sẽ tiên hành cắt luôn trong quá trình nội soi, tránh cho bệnh nhân phải nội soi lần sau.

Đối với nội soi đại tràng có tiền mê và gây mê, sau khi soi bệnh nhân không tự điều khiển các phương tiện giao thông.

Các xét nghiệm máu và PET-CT (Positron emission tomography–computed tomography)  có cho biết được ung thư đại trực tràng sớm không?

Cho tới nay không có xét nghiệm nào có khả năng dự báo là một người bị ung thư đại tràng ở giai đoạn sớm, ngay cả với xét nghiệm CEA (Carcinoembryonic antigen). CEA có thể tăng trong máu ở người ung thư tụy, ung thư dạ dày, ung thư tuyến giáp, ung thư vú [15] và tăng cả trong những bệnh không bị bệnh ung thư như: viêm loét đại tràng chảy máu, xơ gan, bệnh phổi tắc nghẽn, bệnh crohn và suy tuyến giáp [16],[17]. Chính vì vậy, CEA cũng được khuyến cáo không nên sử dụng như một xét nghiệm để sàng lọc phát hiện ung thư đại tràng. PET- CT được coi phương tiện hiện đại phát hiện di căn ung thư, nhưng cũng không phải phương tiện được áp dụng để sàng lọc phát hiện ung thư đại trực tràng ở giai đoạn sớm.

Như vậy, để phát hiện sớm và chữa khỏi ung thư đại tràng thì cách tốt nhất là nội soi đại tràng toàn bộ, đặc biệt là đối với người có nguy cơ cao bị ung thư đại trực tràng.

Ngày đăng

Rượu tàn phá cơ thể con người ra sao?

Nghiên cứu sau đây có thể cho bạn biết những gì xảy ra trong cơ thể, đặc biệt là ở não bộ khi bạn bắt đầu uống hớp rượu đầu tiên.

Uống rượu đã trở thành một phần văn hóa của con người trong suốt ngàn năm qua.

Kiến thức thông thường về các loại đồ uống có cồn có thể giúp chúng ta nhận ra đâu là điểm dừng trong những cuộc nhậu, thế nhưng có lẽ chẳng mấy ai có thể tường tận được những phản ứng phức tạp mà rượu gây ra trong cơ thể của mỗi người.

Các chuyên gia sức khỏe đã đưa ra lượng rượu tiêu chuẩn để mọi người có thể bảo vệ sức khỏe của mình sau những cuộc vui cùng bạn bè.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, lượng rượu tiêu chuẩn rơi vào khoảng 40 ml đối với các loại rượu mạnh (có khoảng 80 loại rượu mạnh được nghiên cứu, trong đó có cả whiskey, gin, vodka, tequila và rum), 150 ml nếu uống các loại rượu nhẹ hơn (khoảng 12 độ) và khoảng 350 ml đối với các loại bia thông thường (chỉ khoảng 5 độ).

 Với những loại rượu mạnh như whiskey, lượng rượu tiêu chuẩn chỉ là khoảng 40 ml (vài chén nhỏ).

Với những loại rượu mạnh như whiskey,
lượng rượu tiêu chuẩn chỉ là khoảng 40 ml (vài chén nhỏ).

Tuy nhiên, thay vì dựa trên lượng rượu được tiêu thụ thì nghiên cứu được nhắc đến dưới đây lại mô tả những tác động của loại đồ uống này thông qua lượng cồn trong máu, bởi một lượng cồn nhất định sẽ gây ra phản ứng khác nhau tùy thuộc vào các giới tính, cân nặng và nhiều yếu tố khác.

Phản ứng của cơ thể theo lượng cồn trong máu (tính theo % cồn/tổng thể tích máu)

Lượng cồn 0%: Cơ thể con người chỉ có thể xử lý một cốc rượu trong vòng một giờ. Khi bạn uống ly rượu đầu tiên, cồn lập tức xâm nhập vào máu qua đường niêm mạc dạ dày hoặc chậm rãi “ngấm” qua dạ dày và ruột.

Lượng cồn 0,03%: Ở mức độ này, bạn sẽ cảm thấy trong người nóng lên bởi các mạch máu đang bắt đầu dãn dần ra. Cồn cũng có thể khiến cảm xúc và tâm trạng của bạn trở nên mãnh liệt hơn bởi nó thúc đẩy quá trình tiết serotonin và endorphin trong não bộ.

Đây là những phản ứng xuất hiện sau khi bạn uống một lượng rượu vừa đủ, chúng không hề gây hại. Nhiều nghiên cứu còn khẳng định các lợi ích đối với việc phòng chống bệnh tim mạch nhờ uống một lượng rượu hợp lý mỗi ngày.

Một lượng rượu vừa đủ không gây hại mà còn có thể có tác động tốt tới sức khỏe.

Lượng cồn 0,08%: Khi lượng cồn trong máu chạm mức 0,08, tương đương với hơn 3 cốc rượu một người đàn ông với cân nặng 80 kg uống trong 1 giờ, hoặc gần 3 cốc rượu một người phụ nữ với cân nặng tương tự uống trong một giờ, người đó sẽ bị cấm điều khiển các phương tiện giao thông.

Lượng cồn 0,12%: Khi lượng cồn trong máu ở mức 0,12, khả năng phối hợp và phán đoán dần dần suy giảm, khả năng kiểm soát lời nói cũng có thể bị kém đi, xuất hiện tình trạng nói lắp.

Người đó càng uống nhiều, lượng cồn mà gan phải phân giải cũng càng lớn. Quá trình này tạo ra chất độc toxin, gây nên áp lực lớn cho gan, từ đó tạo ra mỡ và các mô sẹo, làm suy giảm chức năng gan.

Lượng cồn 0,2%: Một người thực sự say rượu và mất khả năng điều khiển hành vi cùng các chức năng thần kinh của mình là khi lượng cồn trong máu người đó chạm mức 0,2. Do rượu có thể làm rối loạn các dẫn truyền thần kinh trong não bộ, nhiều người còn mất đi khả năng hoạt động tình dục. Điều này còn dẫn đến tình trạng mất ngủ thường xuyên.

Lượng cồn là 0,3%: Ngay khi lượng cồn trong máu vượt quá 0,3, người ta sẽ mất đi ý thức và hệ thống thần kinh trung ương cũng trở nên trì trệ. Lượng cồn cao hơn có khả năng gây ra ngộ độc rượu và thậm chí dẫn đến tử vong.

Sử dụng rượu quá mức thường dẫn tới ngộ độc, nôn mửa, thậm chí là tử vong.

Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng xử lý cồn của cơ thể

Giới tính: Khả năng xử lý cồn của phụ nữ thường khác với khả năng xử lý cồn của đàn ông, ngay cả khi họ có cùng kích thước cơ thể. Điều khác biệt này có nguồn gốc từ sự khác nhau giữa lượng nước trong cơ thể mỗi người và những loại men gan nhất định chỉ xuất hiện trong cơ thể đàn ông. Ngoài ra, hormone cũng là một yếu tố góp phần vào điều này.

Sinh lý: Quá trình xử lý cồn trong cơ thể cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố về mặt sinh lý, bao gồm các nhân tố di truyền, thực phẩm, khả năng trao đổi chất, thói quen tập thể dục và việc sử dụng một số loại thuốc.

Tính cá thể: Một số người dù có lượng cồn cao trong máu nhưng vẫn giữ được trạng thái tỉnh táo dù cơ thể họ cũng xử lý rượu với cách thức giống với người bình thường. Một số phản ứng còn có thể xuất hiện sớm hơn hoặc muộn với đối với từng người cụ thể.

Ngày đăng

Những điều tuyệt đối tránh khi ăn hải sản


Vừa qua, thông tin cá chết hàng loạt dạt ven biển các tỉnh miền Trung đang được dư luận quan tâm đặc biệt. Trong khi các cơ quan chức năng chưa có lời giải cho nguyên nhân dẫn đến việc cá chết trên thì việc nên hay không ăn hải sản vào thời điểm này cũng là vấn đề đang gây tranh cãi.

Hải sản là món ăn ngon, giàu dinh dưỡng rất cần thiết cho cơ thể. Tuy nhiên nó lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ ngộ độc nguy hiểm. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, có nhiều loại hải sản với nhiều loại nguyên nhân gây độc khác nhau. Những biểu hiện ngộ độc phổ biến từ thực phẩm như: đau bụng, nôn, tiêu chảy, sốt đến các biểu hiện thần kinh như tê môi lưỡi, co giật, liệt, mờ mắt, lẫn lộn, hôn mê, hay tim mạch như loạn nhịp tim, tụt huyết áp, hay hô hấp như khó thở, thậm chí tử vong.

Khi ăn hải sản hay bất kỳ thực phẩm nào, nếu có những biểu hiện trên cần nhanh chóng tới cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời.


Cá bổ dưỡng nhưng khả năng bị nhiễm độc kim loại cũng khá cao

Ngoài ra, một số lưu ý sau đây là hết sức cần thiết để phòng tránh ngộ độc khi ăn hải sản:
Không ăn hải sản ở vùng nhiễm độc
Không nên ăn hải sản ở vùng nước biển bị nhiễm độc do ô nhiễm môi trường hay ở vùng biển có thủy triều đỏ, bởi hải sản nơi này dễ nhiễm phải tảo độc và gây ngộ độc, nhất là nghêu, sò, ngao… bởi những loại này rất khó để phân biệt.

Không ăn hải sản chế biến lâu
Không nên ăn những hải sản chế biến từ lâu vì sẽ không biết được nguồn gốc xuất xứ. Khi mua hải sản cũng không nên mua đồ đã chết, bởi hải sản chết càng lâu, lượng histamin sinh ra càng nhiều, khi ăn vào càng dế bị dị ứng, ngộ độc, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng.
Không ăn khi cơ địa dị ứng
Đối với những hải sản lạ, chưa từng ăn lần nào thì cần phải thận trọng, vì rất có thể bạn sẽ gặp nguy cơ ngộ độc hoặc dị ứng với nó. Đặc biệt, với trẻ nhỏ khi cho trẻ thưởng thức món hải sản mới, bạn chỉ nên cho trẻ ăn thử một ít bữa đầu. Nếu an toàn thì bữa sau mới cho ăn nhiều hơn.
Đối với cơ địa dị ứng, hải sản chỉ xảy ra đối với người nào có cơ địa không tiếp nhận loại hải sản nhất định. Vì vậy không thể lấy kinh nghiệm của người này áp dụng cho người khác. Nếu bạn bị dị ứng với một loại hải sản nào đó thì tốt nhất hãy đừng bao giờ ăn lại món đó.
Không ăn khi chưa chín kỹ
Nên ăn chín uống sôi để hạn chế bớt giun sán hay trứng ấu trùng ký sinh trong hải sản. Đặc biệt với món lẩu, khi ăn cần để chín kỹ, đặc biệt tránh ăn hải sản mới chỉ chín tái bởi lúc này nguy cơ mắc bệnh sẽ rất cao.
Không ăn cùng trái cây
Không nên ăn trái cây sau khi ăn hải sản, bởi sự kết hợp này không chỉ ảnh hưởng đến sự hấp thụ protein, canxi trong hải sản của cơ thể mà lượng tannin trong trái cây kết hợp với protein và canxi này tạo thành canxi không hòa tan kích thích đường tiêu hóa, và thậm chí sẽ gây ra các triệu chứng như đau bụng, buồn nôn, nôn mửa.

Ngày đăng

Hậu quả của sự Thiếu Ngủ

“Thiếu ngủ có thể gây ra sự đóng vôi vào lòng động mạch, một trong nhiều rủi ro đưa tới bệnh tim mạch”.

Đó là kết quả nghiên cứu do Tiến sĩ Diane S. Lauderdale và các cộng sự viên tại Đại học Chicago thực hiện và được Tập San của American Medical Asssociation phổ biến vào ngày 24 tháng 12, 2008 vừa qua.

Các tác giả cho hay, họ chưa đọc được kết quả nghiên cứu nào về sự liên quan giữa thiếu ngủ với sự vôi hóa động mạch. Rằng với nghiên cứu vừa thực hiện, họ đã có một khám phá vững chắc và mới lạ về sự liên hệ giữa thời gian ngủ và sự vôi hóa động mạch vành. Rằng cứ một giờ ngủ thêm giảm được khoảng 33% rủi ro hóa vôi. Nghiên cứu của họ được thực hiện trên 495 phụ nữ trung niên khỏe mạnh, chưa có dấu hiệu vôi hóa mạch máu.

Trước đây, đã có nhiều nghiên cứu cho hay sự đóng vôi vào lòng động mạch vành (coronary artery) là dấu hiệu báo trước của bệnh tim trong tương lai.

Những rủi ro đưa tới đóng vôi đã được chứng minh gồm có nam giới, tuổi cao, bất dung gluocose, hút thuốc lá, rối loạn lipid máu, cao huyết áp, mập phì, bất dung với đường glucose (glucose intolerance), viêm lòng động mạch và trình độ học vấn thấp. Phẩm chất và số lượng thời gian ngủ cũng đã được chứng minh là có liên quan tới các rủi ro này.

Với sự dè dặt thường lệ, các tác giả hy vọng là sẽ có nghiên cứu khác được thực hiện để xác định điều mà họ tìm ra.

Khi được tin này, nhiều nhà truyền thông cũng như giới chức y khoa đều khích lệ dân chúng là nên thêm vào danh sách các điều cần làm trong năm mới 2009, để duy trì sức khỏe tốt. Đó là ngủ đầy đủ 8 giờ mỗi đêm. Để tránh bệnh tim mạch cũng như nhiều bệnh tình khác.

Nói về hậu quả của thiếu ngủ với sức khỏe thì đã có nhiều kinh nghiệm cá nhân cũng như nghiên cứu khoa học nêu ra.

Các cụ ta vẫn thường nói: “Ăn được ngủ được là tiên”. Với các cụ, đời sống của các vị Tiên trên Trời đều thoải mái, khỏe mạnh, nhờ ăn ngủ bình thường. Dân gian nhiều nơi cũng vẫn nói, giấc ngủ ngon là liều thuốc bổ tốt, ngủ được giúp xương cốt mạnh mẽ, trí óc minh mẫn, da dẻ mịn màng… Vì ngủ là thời gian tạm ngưng tự nhiên, theo định kỳ của con người trong đó ý thức ngoại cảnh giảm thiểu và sức mạnh được phục hồi. Trong khoảnh khắc này, có biết bao những diễn tiến sinh hóa âm thẩm xảy ra trong cơ thể để tồn trữ nhiên liệu, bảo trì tế bào hư hao, thay thế mô bào già nua.

Nhu cầu ngủ nhiều hay ít thay đổi tùy theo với tuổi tác.

Trẻ sơ sinh ngủ tới 17 giờ một ngày, nếu bé sanh non lại ngủ nhiều hơn. Tới 6 tháng tuổi, ngủ 14 giờ, 16 tháng ngủ 10 giờ. Kể từ khi bước chân vào đại học tới tuổi trưởng thành thì cần từ 7-8 tiếng mỗi ngày. Như vậy thì nếu thọ tới tuổi 75, con người đã dành cho sự ngủ một khoảng thời gian khá dài: một phần tư thế kỷ, vị chi là 25 năm.

Cho nên thiếu ngủ, rối loạn giấc ngủ, khó đi vào giấc ngủ, nhiều lần thức giấc nửa đêm, ngủ với ác mộng, trằn trọc, suy tư…đều có tác dụng không tốt cho sức khỏe.

1-Với trẻ em.

Thiếu ngủ khiến cho nhiều em có những rối loạn về hành vi, khả năng nhận thức, học hỏi, tập trung trong lớp học. Đó là kết quả nghiên cứu của bác sĩ Jacques Montplaisir, Trung Tâm Rối Loạn Giấc Ngủ, bệnh viện Sacre-Coeur, Montreal- Canada.

Theo vị bác sĩ này, một sự thiếu ngủ dù chỉ một giờ mỗi đêm nhưng liên tục đều ảnh hưởng lên sự học hỏi của các em. Ông cũng cho biết không có sự bù trừ qua lại, bổ sung cho thiếu ngủ trong tuần với ngủ thêm vào cuối tuần, như nhiều người tưởng. Kết quả nghiên cứu này được phổ biến trong tạp san SLEEP, ngày 1-9-2007.

Một nghiên cứu khác phổ biến trên Archives of Pediatric and Adolescent Medicine vào tháng 4 năm 2008 cho hay, trẻ em dễ dàng bị chứng quá năng động, kém tập trung (Attention Deficit Disorder) nếu bị mất ngủ, ngủ ít giờ hoặc gặp khó khăn hô hấp trong khi ngủ, như là quá mập phì.

2-Với sự mập phì

Theo một báo cáo của Institute of Medicine vào năm 2006, những người ngủ dưới 7 giờ mỗi đêm đều có rủi ro trở nên mập phì.

Lý do được nêu ra là, thiếu ngủ kích thích một số hormon liên quan tới sự ăn ngon miệng: hormon giảm khẩu vị leptin bớt đi trong khi đó hormon kích thích khẩu vị ghrelin lại tăng lên. Hậu quả là con người ăn nhiều hơn nhu cầu của cơ thể và đưa tới quá nhiều dự trữ năng lượng, phì mập.

3-Với huyết áp

Báo cáo năm 2006 của Office of Internal Medicine gợi ý rằng, thiếu ngủ vì chứng ngưng-thở-tạm-thời khi-ngủ (sleep apnea) có thể đưa tới tình trạng cao huyết áp mãn tính vào ban ngày cũng như bệnh cao huyết áp.

Bác sĩ Alexandros Vgontzas và các đồng nghiệp tại Đại học Y khoaPenn State, Hershey- Pennsylvania cũng có nhận xét là sự kết hợp giữa mất ngủ, ngủ thiếu giờ đều có liện hệ chặt chẽ với bệnh cao huyết áp. Theo họ, những người chỉ ngủ dưới 5 giờ mỗi đêm đều tăng rủi ro bị cao huyết áp tới 5 lần, trong khi người ngủ đầy đủ, không bị bệnh này. Kết quả nghiên cứu được phổ biến trên tạp san SLEEP ngày 21 tháng 6 năm 2008.

4-Với bệnh tim

Chuyên gia về giấc ngủ, bác sĩ David White, Đại học Y khoa Harvard cho hay, người ngủ dưới 5 giờ mỗi đêm sẽ tăng rủi ro bị cơn suy tim (heart attack) tới 40% so với người ngủ 8 giờ. Theo ông, có hai lý do để giải thích: khi thiếu ngủ, hệ thần kinh giao cảm (sympathetic nervous system) hoạt động nhiều hơn, mạch máu co lại, huyết áp tăng, tạo áp lực thêm cho trái tim. Ngoài ra khi thiếu ngủ, cơ thể cần nhiều insulin hơn để duy trì mức độ đường huyết bình thường do đó có tác động xấu tới mạch máu và tim.

Sau nhiều nghiên cứu, bác sĩ Kazuo Eguchi và đồng nghiệp tại Đại học Jichi, Nhật Bản, kết luận là ngủ ít thời gian có liên hệ mật thiết với rủi ro bệnh tim mạch (Arch Intern Med. 2008; 168(20):2225-2231).

Bác sĩ S Schwatz và đồng nghiệp tại Đại học Y tế Công Cộng Nam Florida cũng nêu ra giả thuyết là thiếu ngủ đưa tới rủi ro bệnh tật cho trái tim.

Một nghiên cứu riêng của Schwartz cho hay thiếu ngủ cũng có thể gây ra nhồi máu cơ tim ở người cao tuổi (Annals of Epidemiology, Volume 8, Issue 6, trang 384 – 392 S).

5-Với bệnh trầm cảm

Mất ngủ thường là một dấu hiệu của trầm cảm, nhưng trong nhiều trường hợp mất ngủ cũng có thể đưa tới bệnh trầm buồn này. Đó là kết luận của các nhà chuyên môn về giấc ngủ tại National Sleep Foundation (NSF).

Mất ngủ ảnh hưởng tới đời sống, tới sự sản xuất, sự an toàn của con người. Người mất ngủ sẽ vắng mặt nhiều lần tại sở, ít được thăng thưởng, cảm thấy vô dụng rồi trở nên tiêu cực, buông suôi, buồn chán. Theo tiến sĩ Joyce Walsleben, giáo sư tại đại học Y khoa New York, giấc ngủ và tâm trạng được hóa chất serotonin trong não bộ điều khiển. Khi hóa chất này mất thăng bằng, trầm cảm và mất ngủ xuất hiện. Serotonin giúp giấc ngủ bình yên. Nếu serotonin thấp, giấc ngủ sẽ bị gián đoạn. Vì trầm cảm và mất ngủ thường đi đôi, một cơn mất ngủ có thể là chỉ dấu của trầm cảm sẽ xảy ra.

6-Với bệnh tiểu đường

Nghiên cứu công bố trong Archives of Internal Medicine năm 2005 cho hay, người ngủ dưới 5 giờ mỗi đêm tăng rủi ro tiểu đường tới 2,5 lần, so với người ngủ 6 giờ, với rủi ro 1.7 lần.

Kết quả nghiên cứu do Tiến sĩ James Gangwisch, đại học Columbia, Nữu Ước vào năm 2007 có cùng kết luận.

Cũng năm 2007, bác sĩ Esra Tasali, Đại học Chicago, và đồng nghiệp đã thực hiện một thử nghiệm “lạ đời”. Trong 3 đêm liên tiếp, họ không cho 9 thanh niên rơi vào giấc ngủ sâu đậm nhất bằng cách gõ mạnh vào cánh cửa hoặc lay mình các thanh niên. Kết quả là những thanh niên này giảm 25% khả năng đáp ứng với insulin, một dấu hiệu của bệnh tiểu đường loại 2. Có giải thích cho là, mất ngủ kinh niên dễ dàng đưa tới viêm cứng lòng mạch máu vì gia tăng hormon gây stress và tăng glucose huyết.

Theo bác sĩ Ronald Kramer, Giám đốc Trung tâm Rối loạn Giấc ngủ tại Trung tâm Rối Loạn Ngủ tại thành phố Englewood, tiểu bang Colorado, mất ngủ cũng gây ra cao huyết áp và mập phì, hai rủi ro đưa tới bệnh tiểu đường.

7-Với sự mất cân bằng cơ thể

Quý vị cao niên thiếu ngủ, thức dậy giữa khuya hoặc cảm thấy ngất ngây vào ban ngày, có thể tăng rủi ro té ngã từ 2 tới 4,5 lần. Đó là kết quả nghiên cứu do tạp san Gerontology công bố năm 2007.

8-Với tai nạn xe cộ

Hàng năm, tại Hoa kỳ có tới 200,000 tai nạn xe cộ trong đó có 1500 tử vong gây ra do sự ngái ngủ. Quan sát cho thấy, sự ngây ngất trong khi lái xe cũng nguy hiểm như lái xe mà say rượu. Nghiên cứu công bố trong New England Journal of Medicine năm 2007 cho hay, 20% các tai nạn xe cộ trầm trọng đều do người lái xe buồn ngủ gây ra.

9-Với nữ giới

Bác sĩ Thần Kinh Tâm Trí Edward Suarez, đại học Duke, North Carolina đã say mê với các nghiên cứu về hậu quả của thiếu ngủ từ nhiều thập niên.

Theo ông, kém ngủ có nhiều hình thức. Có người than phiền khó đi vào giấc ngủ, ngủ không đẫy giấc, thức giấc vào giữa đêm, không ngủ trở lại được hoặc ngây ngất buồn ngủ ban ngày.

Kết quả nghiên cứu của ông cho hay người thiếu ngủ thường có nhiều vấn đề khó khăn về sức khỏe, đặc biệt là ở nữ giới, nhất là khi quý bà quý cô than phiền “nằm mãi mới ngủ được”. Ở các vị này, đường huyết lên cao, chất đạm nhiều, chất fibrinogen gây đóng cục máu liên hệ tới stroke cũng cao. Họ cũng hay ở trong tình trạng trầm cảm, dễ giận hờn, khó tính. Bác sĩ Suarez nói là các hiện tượng này chỉ thấy ở nữ giới mà thôi. Ông giải thích sự khác biệt giới tính là do một số hóa chất hiện diện tự nhiên trong cơ thể, như là amino acid tryptophan, chất dẫn truyền thần kinh serotonin and và hormon melatonin. Bản thân ông ta cũng cảm thấy ngạc nhiên với kết quả nghiên cứu này. Kết quả được công bố trong tạp san Brain, Behavior and Immunity.

Làm sao biết mình thiếu ngủ

Theo các nhà chuyên môn, sau đây là một số dấu hiệu thường thấy khi thiếu ngủ:

-Cảm thấy ngây ngất, buồn ngủ vào ban ngày;

-Mới ngả lưng dăm ba phút mà đã ngáy như sấm;

-Ngủ gà ngủ vịt ban ngày.

Để ngủ ngon, tự nhiên

Ngày xưa, còn bé, học lớp tư, lớp năm, có môn học Vệ Sinh Thường Thức. Ta phải học thuộc lòng những bài học như đừng để móng tay dài, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo mỗi ngày. Đây là môn học mà tự điển giải nghiã là những nguyên tắc phải giữ để có sức khoẻ.

Các cụ ta xưa chắc áp dụng điều mình học tới nơi tới chốn lắm, nên bệnh tật cũng ít, ngủ nghê chẳng cần Dalmane, Xanax. Đèn điện chưa có, mà TV, phim bộ cũng không, cho nên tối đến, khi gà lên chuồng là các cụ cũng rủ nhau lên giường. Sáng mới hửng đông, gà gáy giấc đầu, là các cụ đã thức dậy, pha trà uống, làm bát cơm nguội hay củ khoai luộc, rồi ra đồng làm việc, rất đều đặn mỗi ngày.

Nay bài học Vệ Sinh không có, nhưng có những tài liệu về y tế công cộng, y khoa phòng ngừa, ta cũng lấy được những lời chỉ dẫn về giữ gìn sức khoẻ tự nhiên, không thuốc men.

Sau đây, xin cùng quý vị sắp xếp một bài học Vệ Sinh về giấc ngủ.

1- Đi ngủ có giờ giấc.

Ngủ cùng giờ và thức dậy cũng cùng giờ, tạo thành một thói quen để cái đồng hồ sinh học và nhịp sinh học trong người không bị rối loạn.

Nếu cần du di thì thay đổi giờ đi ngủ, nhưng đừng lên giường trễ quá nửa đêm.

Ngủ nướng cuối tuần coi bộ hấp dẫn và nghe được đó, nhưng không lành mạnh vì nhịp sinh học lại phải điều chỉnh lại giờ giấc mồi tuần.

2- Tập luyện cơ thể quá sức trước khi đi ngủ làm tâm thần bị kích thích và ta khó đi vào giấc ngủ. Có người khuyên nên tập nhẹ 3 giờ trước khi đi ngủ.

3- Tránh ăn quá no trước giờ ngủ.

Ăn no, nặng bụng rồi vào giường ngủ ngay, thức ăn nó cứ nhấp nhỏm trong bao tử hàng giờ, đòi được tiêu hoá, thì làm sao mà ngủ yên cho được. Nhất là lại ăn nhiều gia vị chua, cay.

Một chút trái cây, một ly sữa ấm thì tốt hơn cho giấc ngủ ngon.Sữa có chất giúp ngủ tryptophan.

4- Tránh những chất kích thích thần kinh như cà phê, thuốc lá, rượu mạnh.

Cà phê có tính cách gây phấn khởi khiến khó ngủ.

Rượu uống trước khi đi ngủ có thể làm ta ngủ đấy, nhưng kinh nghiệm cho hay, rượu làm ta hay đái đêm, khó thở lại tạo ra những cơn ác mộng.

5- Phòng ngủ phải yên tĩnh, thoáng khí, nhiệt độ vừa phải, nệm không cứng quá hoặc mềm qúa.

Một điểm quan trọng là: chỉ dùng phòng ngủ để Ngủ và Ngủ với nhau.

Không coi TV nhất là những phim về tội ác, hoặc quá mủi lòng, gây vấn vương tâm trí; không ăn vặt trong phòng ngủ; không thảo luận chuyện làm ăn, chuyện khó khăn trong ngày, để tránh sáo trộn giấc ngủ.

6- Đừng mang suy tư, buồn bực vào giường.

Nếu có những việc phải làm cho ngày hôm sau hoặc có những ưu tư, thì ra bàn làm việc, ngồi viết hết những điều đó ra, đặt ưu tiên giải quyết cho ngày hôm sau rồi đi ngủ.

7- Thức giấc nửa đêm, không ngủ lại được rồi nằm trằn trọc:

Hãy dậy, đi làm bất cứ một việc nhỏ nào đó, tới khi thấy mệt và buồn ngủ thì đi ngủ. Đừng nằm trên giường, ngó đồng đồng hồ và đếm thời gian đi qua.

8- Kết quả cuả nhiều nghiên cứu chứng minh rằng trong lúc ái ân, cơ thể tiết ra một vài kích thích tố khiến nhiều người ngủ ngon hơn.

Cho nên đã có lời khuyên: nếu không ngủ được thì thử kiếm một bạn đồng sàng.

Kết luận

Nói về giấc ngủ, khoa học gia kiêm nhà ngoại giao Hoa Kỳ Benjamin Franklin, (1706-1790) có nhận xét: “Ngủ sớm, dạy sớm làm con người khỏe mạnh, giàu có và khôn ngoan”.

Trong khi đó, bác sĩ phân tâm học Georg Groddeck của Đức (1886-1934) lại nói: “Nên nhớ là sự hồi phục không phải do bác sĩ tạo ra mà từ chính bệnh nhân. Bệnh nhân tự chữa lành bằng sức mạnh của họ, cũng như khi họ đi lại, ăn uống, suy nghĩ, hít thở không khí hoặc ngủ”.

Ngủ có vai trò quan trọng trong sức khỏe và đứng hàng thứ nhì trong tứ khoái.

Vậy thì cũng nên thêm tiết mục “duy trì giấc ngủ lành mạnh” vào danh sách các điều Quyết Tâm Đầu Năm (New Year Resolutions) cho năm 2009 và các năm kế tiếp.

Cho tới khi trái tim giã từ cuộc đời một cách thoải mái, bình an trong “Giấc Ngủ Ngàn Thu”.

                                                                                         ( nguồn : ST )