Ngày đăng

Tổng quan về xoa bóp bấm huyệt

Tổng quan về xoa bóp bấm huyệt

Xoa bóp bấm huyệt là phương pháp phòng và chữa bệnh mà chủ yếu dừng thao tác kỹ xảo của bàn tay, ngón tay tác động lên da, gân cơ khớp, huyệt của người bệnh để tạo nên cho cơ thể những phản ứng nhằm mục đích lập lại sự cân bằng, điều chỉnh lại sự rối loạn.

Những nhận thức đúng về xoa bóp bấm huyệt

  • Chống chỉ định

Các bệnh nhiễm khuẩn toàn thân và cục bộ

Trường hợp đau bụng cần theo dõi ngoại khoa

Trường hợp ung thư

Người bị viêm tắc tĩnh mạch

Các bệnh ngoài da cấp

  • Ưu điểm của phương pháp xoa bóp bấm huyệt

Đơn giản, rẻ tiền

Không gây độc hại và an toàn cho người bệnh

Có hiệu quả và phạm vị chữa bệnh rộng rãi

  • Khi tiến hành xoa bóp bấm huyệt cần lưu ý

Phải làm cho bệnh nhân tin tưởng và phối hợp với thầy thuốc.

Không xoa bóp bấm huyệt cho bệnh nhân khi quá đói hoặc quá no. Trước khi xoa bóp bấm huyệt phải nghỉ ngơi từ 5-10 phút. Khi bắt đầu xoa bóp bấm huyệt và sắp kết thúc thủ thuật  thì thủ thuật phải nhẹ nhành. Sau mỗi lần xoa bóp bấm huyệt thì bệnh nhân phải cảm thấy dễ chịu. Nếu đau tăng lên hoặc cảm giác mệt mỏi  thì lần xoa bóp sau phải nhẹ nhành hơn.

Trước khi xoa bóp bấm huyệt thầy thuốc phải rửa tay, cắt móng tay, tháo nhẫn và đồng hồ.

Khi tiến hành xoa bóp bấm huyệt thầy thuốc phải có thái độ hòa nhã, nghiêm túc.


bấm huyệt
  • Thời gian xoa bóp bấm huyệt

Để tránh hiện tượng nghiện xoa bóp bấm huyệt và phát huy tác dụng của xoa bóp bấm huyệt thì mỗi lần xoa bóp bấm huyệt từ 15-20 phút. Bệnh cấp tính xoa bóp bấm huyệt ngày một lần, bệnh mạn tính xoa bóp bấm huyệt ngày hai lần.

Xoa bóp bấm huyệt toàn thân từ 30-40 phút/lần, xoa bóp bấm huyệt bộ phận từ 10-15 phút/lần.

Những phép điều trị dùng trong xoa bóp bấm huyệt

  • Pháp bổ

Pháp bổ là pháp bồi bổ giúp cho âm dương khí huyết bị hư trở lại bình thường. Người ta thường dùng các thủ thuật xoa, day ấn và làm nhẹ nhành, thuận đường kinh.

  • Pháp tả

Pháp tả là làm mất phần thịnh quá của cơ thể dingf trong chứng thực do tà khí gây nên. Thủ thuật làm nhanh, mạnh và ngược với đường kinh.

  • Làm ấm

Làm ấm là đuổi hàn tà, trợ dương khí cho cơ thể dùng trong chứng hàn. Thủ thuật xoa, ấn, day là chính thủ thuật hòa hoãn để sinh ra nhiệt ở cơ nhục và tạng phủ để đạt  mục đích ôn nhiệt trừ hàn.

  • Pháp tiêu

Pháp tiêu là làm tiêu tan những ứ đọng ở kinh lạc dùng trong trường hợp khí huyết ứ trệ, phong hàn thấp ứ  trệ ở kin lạc.

Dung thủ thuật day bóp lăn và làm mạnh.

  • Pháp hãn

Làm mở lỗ chân lông gây ra mồ hôi, qua đó để đuổi tà khí ra ngoài.

  • Pháp điều hòa

Dùng để đuổi tà khí ra bên ngoài mà không hại đến chính khí. Dùng trong trường hợp bệnh ở bán biểu bán lý hoặc các tạng phủ bị bất hòa.

Thủ thuật làm vừa sức, dịu sàng.

  • Pháp làm mát

Pháp làm mát là pháp để hạ nhiệt độ, giữ gìn tân dịch, chống khát và bồn chồn, dùng trong các trường hợp nhiệt ở lý.

  • Pháp xổ

Làm thông đại tiện. dùng trong các trường hợp thực tà hữu hình ở trường vị, chủ yếu xoa bóp bấm huyệt vùng bụng theo chiều kim đồng hồ.

(Nguồn : sưu tầm)

Ngày đăng

18 THỦ THUẬT XOA BÓP BẤM HUYỆT

18 THỦ THUẬT XOA BÓP BẤM HUYỆT

Giới thiệu một số thủ thuật xoa bóp thường dùng: xát, xoa, day, ấn, miết, hợp, véo, bấm, đấm, điểm, lặn, phát. vờn, rung, ve, vận động.
THỦ THUẬT XOA BÓP
Thủ thuật xoa bóp tương đối nhiều, xin giới thiệu một số thủ thuật thường dùng: xát, xoa, day, ấn, miết, hợp, véo, bấm, đấm, điểm, lặn, phát. vờn, rung, ve, vận động.
Yêu cầu thủ thuật: thủ thuật phải dịu dàng, song có tác dụng thấm sâu vào da thịt, làm được lâu và có sức.
Tác dụng bổ tả của thủ thuật: thường làm nhẹ, chậm rãi, thuận đường kinh có tác dụng bổ, làm nặng, nhanh, ngược đường kinh có tác dụng tả.
1. Xát: 
Dùng gốc gan bàn tay, mô ngón tay út hoặc mô ngón tay cái xát lên da, theo hướng thẳng (đi lên, đi xuống hoặc sang phải, sang trái).
Tay của thầy thuốc di chuyển trên da người bệnh.
Cũng có khi phải dùng dầu, bột tan (tale) để làm trơn da.
Toàn thân chỗ nào cũng xát được.
Tác dụng: thông kinh lạc, dẻo gân cốt, lý khí làm hết đau, làm hết sưng, giảm đau.
2. Xoa:
Dùng vân ngón tay, gốc bàn tay hoặc mô ngón tay út ngón tay cái xoa tròn trên da chỗ đau. Tay của thầy thuốc di chuyển trên da người bệnh. Là thủ thuật mềm mại, thường dùng ở bụng hoặc nơi có sưng đỏ.
Tác dụng: lý khí hòa trung (tăng cường tiêu hóa) thông khí huyết, làm hết sưng, giảm đau.
3. Day: 
Dùng gốc bàn tay, mô ngón tay út, mô ngón tay cái hơi dùng sức ấn xuống da người bệnh và di chuyểnn theo đường tròn. Tay của thầy thuốc và da của người bệnh dính với nhau, da người bệnh di động theo tay thầy thuốc. Thường làm chậm còn mức độ mạnh hay nhẹ, rộng hay hẹp tuy tình bệnh lý, là thủ thuật mềm mại hay làm ở nơi đau, nơi nhiều cơ.Tác dụng: làm giảm sưng, hết đau, khu phong, thanh nhiệt, giúp tiêu hóa.Hai thủ thuật day và xoa là hai thủ thuật chính trong việc chữa sưng tấy.
4. Ấn:
Dùng ngón, gốc gan bàn tay, mô ngón tay cái hoặc mô ngón tay út ấn vào một nơi nào hoặc vào huyệt nào.
Tác dụng: sức qua da vào thịt, xương hoặc vào huyệt.
5. Miết:
Dùng vân ngón tay cái miết chặt vào da người bệnh rồi miết theo hướng lên hoặc xuống hoặc sang phải sang trái. Tay của thầy thuốc di động và kéo căng da của người bệnh. Hay dùng ở đầu, bụng.
Tác dụng: khai khiếu, trấn tĩnh, bình can giáng hỏa, làm sáng mắt, trẻ em ăn không tiêu (miết từ trung quản xuống đến rốn).
6. Phân: Dùng vân các ngón tay hoặc mô ngón tay út của hai ttay, từ cùng một chỗ tẽ ra hai bên theo hướng ngược nhau.
a) Có thể chạy trên da người bệnh khi hai tay phân ra và đi cách nhau xa.
b) Có thể dính vào da người bệnh, da người bệnh bị keo năng ra hơi hướng ngược nhau khi hai tay phân ra và cách nhau không xa lắm.
Dùng ở đầu mặt, ngực, lưng
Tác dụng: hành khí, tán huyết, bình can, giáng hỏa.7. Hợp:
Dùng vân cán ngón tay hoặc mô ngón tay út của hai tay từ hai chỗ khác nhau đi ngược chiều và cùng đến một chỗ. Tay của thầy thuốc như ở thủ thuật phân.
Dùng ở đầu, bụng, lưng.
Tác dụng: bình can giáng hỏa, trợ chính khi, giúp tiêu hoa.

8. Véo:

Dùng ngón tay cái, ngón tay trỏ hoặc những đốt thứ 2 của ngón cái với đốt thứ 3 của ngón tay trỏ kẹp và kéo da lên, hai tay làm liên tiếp sao cho da của người bệnh luôn luôn như bị cuộn ở giữa các ngón tay của thầy thuốc. Hay dùng ở lưng, trán.
Tác dụng: bình can giáng hỏa, thanh nhiệt, khu phong tán hàn, nâng cao chính khí.
9. Âm:
Trước đây người ta dùng móng tay cái bấm vào huyệt nhân trung, thập tuyên, thừa tương để điều trị trong các trường hợp ngất choáng. Có tác dụng làm tỉnh người.
Hiện nay người ta cắt ngắn móng ngón tay cái và ngón trỏ để bấm  vào các huyệt, a thị huyệt và những nơi cơ co cứng để điều trị một số bệnh cấp tính và mãn tính.
Chú ý: khi bấm nốt 1 và 2 vuông góc với nhau bấm từ từ, tăng dần đến khi bệnh nhân cảm thấy tức nặng thì hãm lại khoảng 1 phút dùng.
Nếu tay ấn yếu thì dùng góc gan bàn tay kia ấn thêm vào và không làm quá sức chịu đựng của người bệnh.
Khi bấm nút không được day vì nghiền nát tổ chức bầm tím và đau.
10. Điềm
Dùng đầu ngón tay cái, đốt thứ 2 ngón trỏ, giữa hoặc khuỷu tay, dùng sức ấn thẳng góc vào huyệt hoặc vị trí nhất định. Đó là thủ thuật tả mạnh nhất của xoa bóp, cần căn cứ vào bệnh tình hư thực của người bệnh để dùng cho thỏa đáng.

Thường dùng ở mông, lưng, thắt lưng, tứ chi.

Tác dụng: khai thông những chở bê tắc, tán hàn giảm đau.

11. Bóp

Có thể dùng hai bàn tay hoặc ngón tay cái và ngón trỏ, ngón nhẫn hoặc ngón cái và bốn ngón tay kia hoặc hai đầu ngón tay cái và trỏ (khi bóp vào huyệt). Lúc đó vừa bóp vừa hơi kép thịt lên. Nói chung không lên để thịt và gân trượt dưới tay, vì làm như vậy gây đau. Nên dùng đốt thứ 3 các ngón tay để bóp, không lên dùng đầu ngón tay để bóp vào cơ vì làm như vậy gây đau. Thường dùng ở cổ, gáy, vai, nách, lưng trên, mông và tứ chi. Sức bóp mạnh hay nhẹ tùy đối tượng.

12. Đấm
Nắm tay lại dùng ô mô út đấm vào chỗ bị bệnh, thường dùng ở nơi nhiều cơ như lưng, mông, đùi.
Tác dụng: thông khí huyết, tán hàn, khu phong.
13. Chặt
Duỗi thẳng bàn tay, dùng ô mô út chặt liên tiếp vào chỗ bị bệnh. Thường dùng ở nơi nhiều cơ như lưng, mông, đùi.
Nếu xoa bóp ở đâu thì xòe các ngón tay, dùng ngón út chặt vào đầu bệnh nhân. Khi chặt ngón út sẽ đập vào ngón đeo nhẫn, ngón đeo nhẫn sẽ đạp vào ngón giữa, ngón giữa sẽ đập vào ngón trỏ phát ra tiếng kêu.
Tác dụng: thông khí huyết, tán hàn, khu phong.

14. Lăn: 
Dùng mu bàn tay và ô mô út hoặc dùng các khớp giữa bàn tay và ngón hoặc dùng các khớp ngón tay vận động nhẹ nhàng khớp cổ tay với một sức ép nhất định lần lượt lăn trên da thịt bệnh nhân, thường lăn ở nhiều nơi và nơi đau.

Tác dụng: khu phong, tán hàn, thông kinh lạc làm lưu thông khí huyết do đó giảm đau, làm khớp vận động được dễ dàng.

Thủ thuật này có tác dụng thấm sâu vào da thịt, diện kích thích lớn, nên hay được dùng trong tất cả các trường hợp xoa bóp.
15. Phát
Bàn tay hơi khum khum, giữa lòng bàn tay lõm, các ngón tay khít lại với nhau phát từ nhẹ đến nặng vào chỗ bị bệnh. Khi phát da đỏ lên do áp lực trong lòng bàn tay thay đổi gây nên, chứ không có các vết lằn ngón tay như khi để thẳng ngón tay như để thắng ngón tay phát. Dùng ở vai, thắt lưng, tứ chi, bụng.
Tác dụng: thông kinh lạc, mềm cơ, giảm sức căng.
16. Rung
Người bệnh ngồi thẳng, hai tay buông thõng hơi nghiêng người về phía bên kia, thầy thuốc đứng hai cổ tay nắm cổ tay người bệnh kéo hơi căng, hơi dùng sức rung từ nhẹ đến nặng, chuyển động như làn sóng từ tay lên vai. Vừa rung vừa đưa tay bệnh nhân lên xuống từ từ và cuối cùng giật nhẹ một cái.
Dùng ở tay là chính
17. Vê
Dùng ngón tay trỏ và ngón cái vê theo hướng thẳng thường dùng ở ngón tay, ngón chân và các khớp nhỏ.
Tác dụng: làm trơn khớp, thông khí huyết:

18. Vờn
Hai bàn tay hơi cong bao lấy một vị trí, rồi chuyển động ngược chiều kéo theo cả da thịt người bệnh chỗ đó chuyển động theo. Dùng sức phải nhẹ nhàng vờn từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên.
Dùng ở tay chân, vai, lưng, sườn.
Tác dụng: bình can, giải uất, thông kinh lạc, điều hòa khí huyết.
19. Vận động: 
Tùy theo từng khớp mà có cách vận động khớp khác nhau.
Ví dụ: khớp vai: cột 2 tay cố định phía trên khớp một tay cầm cánh tay vận động khớp theo phạm vi hoạt động bình thường của khớp. Nếu khớp vận động bị hạn chế cần kéo giãn khớp trong khi vận động và phải hết sức chú ý phạm vi hoạt động của khớp lúc đó, làm từ từ tăng dần tránh làm quá mạnh gây quá đau cho người bệnh.
Các khớp đốt sống cổ: một tay để ở cằm một tay, một tay để ở chẩm, hai tay vận động ngược chiều nhau một cách nhẹ nhàng sau đó đột nhiên làm mạnh một cái nghe tiếng kêu khục.
Các khớp cột sống lưng: Bệnh nhân nằm nghiêng, chân dưới duỗi thẳng, chân trên co, tay phía dưới để trước mặt, tay phía trên để quặt sau lưng. Một cánh tay của thầy thuốc để ở mông, một cẳng tay đặt ở rãnh đen trước ngực, hai tay vận động ngược chiều nhau một cách nhẹ nhàng, sau đó đột nhiên làm mạnh một cái sẽ phát ra một tiếng kêu khục.
Tác dụng: thông lý mở khớp, tán nhiệt, làm tăng sức hoạt động của các chi.
Mỗi lần xoa bóp ta chỉ cần dùng một số thủ thuật mà thôi. Hay dùng nhất có xoa, rung, đấm, bóp, ấn, vờn, lăn, vận động.

(Nguồn : sưu tầm)

Ngày đăng

   XOA BÓP BẤM HUYỆT, HUYỆT VỊ LÀ GÌ?

     XOA BÓP BẤM HUYỆT, HUYỆT VỊ LÀ GÌ?

         – Xoa bóp bấm huyệt là biện pháp phòng và chữa bệnh đơn giản. Đặc điểm là dùng bàn tay, ngón tay là chính để tác động lên huyệt, da thịt, gân khớp của người bệnh. Nếu được thực hiện đúng kỹ thuật, đúng chỉ định, xoa bóp bấm huyệt có thể mang lại những hiệu quả tốt.

       – Xoa bóp bấm huyệt là một kích thích vật lý, trực tiếp tác động vào da thịt, thần kinh, mạch máu và các cơ quan cảm thụ gây nên những thay đổi về thần kinh, thể dịch, nội tiết qua đó nâng cao năng lực hoạt động của hệ thần kinh, nâng cao quá trình dinh dưỡng của cơ thể. Xoa bóp làm giãn mạch máu, tăng tuần hoàn tại chỗ. Tăng tuần hoàn, góp phần chống viêm, giảm phù nề. Luồng máu tới sẽ tăng cường trao đổi chất, mang ôxy tới cho tế bào và mang đi các chất thải cặn bã. Đối với cơ xương khớp, xoa bóp làm giãn cơ, đặc biệt là những nhóm cơ đã bị co cứng trước đó. Trong các bệnh khớp, gân, dây chằng bao giờ cũng có hiện tượng co cứng các nhóm cơ xung quanh khớp, từ đó gây đau, hạn chế vận động. Xoa bóp có thể cải thiện các tình trạng trên.

        – Xoa bóp thường xuyên làm tăng tính linh hoạt của khớp và làm giảm khả năng bị chấn thương, cải thiện tư thế.Ngoài ra, xoa bóp còn kích thích hệ thống lympho, làm tăng miễn dịch và cơ chế bảo vệ tự nhiên của cơ thể. Xoa bóp tác động trực tiếp lên các thụ cảm thần kinh dày đặc ở dưới da tạo ra các đáp ứng phản xạ thần kinh từ đó gây nên tác dụng điều hòa quá trình hưng phấn hay ức chế thần kinh trung ương, làm thư giãn thần kinh, giảm căng thẳng, tăng khả năng tập trung, giảm đau, giãn cơ, và điều hòa chức năng nội tạng, tăng cường nhu động của dạ dày, ruột và cải thiện chức năng tiêu hoá, tăng dinh dưỡng của da làm da bóng đẹp, có tác dụng tốt đối với chức năng bảo vệ của da. Xoa bóp còn có nhiều tác dụng khác góp phần phục hồi sức khỏe.

Xoa bóp bấm huyệt là thủ thuật thường được sử dụng trong y học cổ truyền để điều trị các bệnh

HUYỆT VỊ

        Theo sách Linh khu thiên Cửu châm thập nhị nguyên: “Huyệt là nơi thần khí hoạt động vào – ra; nó được phân bố khắp phần ngoài cơ thể”. Có thể định nghĩa huyệt là nơi khí của tạng phủ, của kinh lạc, của cân cơ xương khớp tụ lại, tỏa ra ở phần ngoài cơ thể.

Huyệt đạo trên cơ thể người

        Nói cách khác, huyệt là nơi tập trung cơ năng hoạt động của mỗi một tạng phủ, kinh lạc…., nằm ở       một vị trí cố định nào đó trên cơ thể con người.

        Việc kích thích tại những huyệt vị này (bằng châm hay cứu) có thể làm những vị trí khác hay bộ phận của một nội tạng nào đó có sự phản ứng nhằm đạt được kết quả điều trị mong muốn.
Huyệt không những có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động sinh lý và các biểu hiện bệnh lý của cơ thể, mà còn giúp cho việc chẩn đoán và phòng chữa bệnh một cách tích cực.
Theo các sách xưa, huyệt được gọi dưới nhiều tên khác nhau: du huyệt , khổng huyệt , kinh huyệt , khí huyệt , cốt huyệt v.v……Ngày nay huyệt là danh từ được sử dụng rộng rãi nhất.
Các nhà khoa học ngày nay chỉ công nhận sự hiện hữu của huyệt vị châm cứu về mặt hiệu quả trị liệu và về mặt điện sinh vật.

18 THỦ THUẬT XOA BÓP THƯỜNG DÙNG TRONG XOA BÓP BẤM HUYỆT:

 

1-Xoa

10-Điểm

2-Xát

11-Bóp

3-Day

12-Bấm

4-Ấn

13-Lăn

5-Miết

14-Rung

6-Phân

15-Phát

7-Hợp

16-Vê

8-Véo

17-Vờn

9-Bấm

18-Vận Động

 

Ngày đăng

MỘT SỐ BÀI THUỐC DÂN GIAN

MỘT SỐ BÀI THUỐC DÂN GIAN THƯỜNG DÙNG

1. Bệnh thấp khớp

      + Rượu tỏi trị đau nhức: Lấy tỏi khô bóc vỏ, đem thái nhỏ rồi ngâm với 100ml rượu gạo 450, sau 15 ngày khi rượu đã chuyển sang màu vàng nghệ thì có thể dùng được. Mỗi ngày chỉ cần dùng 2 thìa trước khi ăn sáng và khi đi ngủ vào buổi tối.

     + Ngải cứu trắng và muối: Lấy ngải cứu rửa sạch trộn lẫn cùng muối rồi cho nước nóng lên sau đó đắp vào khớp. Khi khớp bị sung đắp ngải cứu muối ấm sẽ làm cơn đau giảm, bớt sung hơn.

     + Lá lốt chữa đau nhức xương khớp khi thay đổi thời tiết: Lá lốt lấy 5-10g phơi khô sắc cùng 2 bát nước đến khi còn ½ bát thì uống trong ngày. Dùng thuốc khi còn đang ấm và uống sau bữa tối. Mỗi liệu trình điều trị trong vòng 10 ngày.

2. Bệnh đau nhức xương khớp

     + Điều trị xương khớp bằng lá lốt: Lấy khoảng 20-30g lá lốt tươi hoặc 10g lá lốt khô, rửa sạch cho vào ấm sắc đổ 2 bát nước đầy và đun nhỏ lửa đến khi còn lại khoảng nửa bát nước cốt lá lốt. Uống nước lá lốt khi còn ấm và nên uống sau bữa tối. Sử dụng một liệu trình trong vòng 10 ngày để giảm cơn đau hiệu quả.

    + Điều trị nhờ cây xấu hổ: Tìm rễ cây xấu hổ rửa sạch, thái từng lát nhỏ mỏng rồi đem phơi khô. Mỗi ngày bạn lấy khoảng 100g rễ câu xấu hổ đã phơi khô rồi rang lên, tiếp theo tẩm thêm chút rượu 400 và rang thêm một lần nữa cho khô. Nguyên liệu thu được bạn cho vào ấm sắc, đổ một lít nước đun nhỏ lửa đến khi nào còn khoảng 300-400ml nước là được, chia ra làm 3 lần uống trong ngày.

3. Trị đau lưng từ dược thảo thiên nhiên

     + Dây mướp già ở gần gốc và rễ cây mướp đem đốt thành tro hoặc sao đến khi có màu vàng già thì xay nhỏ thành bột. Ngâm uống 2 lần, mỗi lần 6g, chiêu thuốc bằng rượu.

     + Vỏ vừng 15g, hạt hẹ 12g. Mỗi ngày sắc uống 1 thang, chia làm 2-3 lần trong ngày

     + Lá ngải cứu tươi xào nóng với dấm, bọc trong túi vải đắp chườm vào thắt lưng hay chỗ đau.

4. Trị bệnh viêm đại tràng

     + Trị bệnh viêm đại tràng bằng củ riềng: Chuẩn bị các nguyên liệu riềng tươi và lá lốt mỗi loại 20g. Hai nguyên liệu này đem rửa cho sạch, cắt nhỏ và cho vào ấm hãm với nước sôi như hãm chè. Sau khoảng 20 phút thì gạn lấy nước thuốc uống làm 3-4 lần trong ngày.

    + Trị bệnh viêm đại tràng bằng nha đam: Hái 5 lá lô hội tươi về rửa sạch và dùng dao gọt bỏ lớp vỏ xanh bên ngoài đi. Phần ruột phía trong đem cắt nhỏ ra và xay nhuyễn cùng 500ml mật ong. Chia bài thuốc dân gian này làm 3 lần uống trong ngày.

    + Trị bệnh bằng lá vối: Mỗi ngày lấy khoảng 2 lạng lá vối tươi đem vò qua cho nát và cho vào ấm hãm với 2 lít nước sôi, sau khoảng 1 giờ lấy uống thay nước lọc hàng ngày.

     + Trị bệnh bằng nghệ tươi và mật ong: Lấy 50 g nghệ tươi đem rửa cho thật sạch, cạo bỏ lớp vỏ bên ngoài rồi đem giã nát và chắt lấy nước cốt. Cuối cùng trộn đều 3 thìa mật ong chung với nước cốt nghệ, chia thuốc làm 2 lần uống trước các bữa ăn sáng và tối.

5. Trị bệnh đau bụng từng cơn

   + Dấu hiệuKhi thời tiết chuyển đổi sang mùa lạnh hoặc mưa nhiều, bạn thường gặp phải triệu chứng đau bụng từng cơn. Dùng nghệ đen sẽ làm giảm cơn đau trong tích tắc và rất an toàn.

     + Cách chữa trị: Tán nhuyễn 100g nghệ đen cùng với 50g mộc hương thành bột. Uống với nước đun sôi để nguội. Mỗi lần uống 2g hỗn hợp kèm theo một ít giấm pha loãng.

Ngày đăng

Chế độ ăn uống cho người tiểu đường

Chế độ ăn uống kiêng kị cho bệnh tiểu đường

      Tiểu đường còn được gọi là đái tháo đường là một bệnh nội tiết do trong cơ thể thiếu hoặc không có nội tiết tố insulin. Chế độ ăn kiêng giữ một vai trò quan trọng trong việc điều trị bệnh tiểu đường. Bệnh tiểu đường có thể được điều trị bằng chế độ ăn trong trường hợp tiểu đường (đái đường) nhẹ, tiểu đườngtiềm tàng) hoặc kết hợp với các thuốc hạ đường huyết đối với các thể tiểu đường (đái đường) mức độ trung bình và nặng.
Ở bệnh nhân cân nặng bình thường (tiểu đường phụ thuộc Insulin hay không phụ thuộc Insulin), chế độ ăn kiêng phải được chuẩn về chất lượng (hạn chế gluxit và lipit) và cố định về số lượng.
Chế độ ăn kiêng cần được điều chỉnh theo từng bệnh nhân và theo mục tiêu điều trị của bác sĩ.
Trong những ngày đầu hay trong những tuần đầu tiên, thức ăn phải được cân để sau đó bệnh nhân biết cách ước tính trọng lượng của các loại thực phẩm một cách tương đối.

Chế độ ăn đáp ứng nhu cầu năng lượng: Nhu cầu tính theo thể trạng và tính chất lao động

Thể trạng

Lao động nhẹ Lao động vừa Lao động nặng

Gầy

35 Kcal/kg 40 Kcal/kg 45 Kcal/kg
Trung bình 30 Kcal/kg 35 Kcal/kg

40 Kcal/kg

Mập 25 Kcal/kg 30 Kcal/kg

35 Kcal/kg

Chế độ ăn phải đảm bảo đầy đủ lượng protit, lipit cần thiết cho cơ thể trong đó lượng gluxit chiếm 50% lượng calo chung của khẩu phần, protid chiếm 15%, lipit 35%.

Một số áp dụng thực tế cho bệnh tiểu đường

      – Thực phẩm cung cấp gluxit : Bánh mì 40g, gạo 25g, mì sợi 30g, khoai tây 100g, khoai mì tươi 60g, đậu 40g, 1 trái cam vừa, 1 trái chuối vừa, 1 trái táo, 100g nho, 250g dâu tây, 1 trái thơm, 1 trái xoài vừa đều tương đương với 20g gluxit.

      – Thực phẩm cung cấp protit: 100g thịt nạc tương đương với 15-18g protit

– Thực phẩm cung cấp lipit: 100g dầu ăn tương đương với 90-100g lipit.

1. Đối với thức ăn chứa tinh bột – bệnh nhân tiểu đường cần lưu ý

      Nên ăn các loại bánh mì không pha trộn với phụ gia như bánh mì đen, gạo lứt, khoai tây, khoai sọ… lượng tinh bột đưa vào cơ thể người tiểu đường nên bằng khoảng 50-60% người thường. Sử dụng thường xuyên các loại ngũ cốc thô, chà xát ít vì lớp vỏ có chứa nhiều Vitamin và khoáng chất có lợi cho sức khỏe. Phương thức chế biến chủ yếu là luộc, nướng hoặc hầm chứ không nên chiên xào.

 2. Đối với chất đạm – bệnh nhân tiểu đường cần lưu ý

      Hạn chế tối đa thịt hộp, patê, xúc xích… thay vào đó hãy ăn cá, trứng sữa, các sản phẩm chế biến từ sữa, đậu… nên ưu tiên cá mòi và cá chích vì trong hai loại cá này có chứa chất béo có lợi cho việc chống lại bệnh tim mạch và ung thư. Người tiểu đường (đái đường) có thể ăn các loại thịt lợn, thịt bò đã lấy sạch mỡ. Tránh tuyệt đối da gà, da vịt bởi nó có chứa rất nhiều cholesterol. Cũng như thực phẩm chứa tinh bột, nên chọn cách chế biến là luộc, kho, nướng hơn là chiên.

3. Đối với chất béo – bệnh nhân tiểu đường cần lưu ý

      Phải hết sức hạn chế mỡ, các bác sĩ khuyến cáo lượng cholesteron đưa vào phải dưới 300mg mỗi ngày và lượng mỡ bão hòa phải thay bằng các loại dầu thực vật như dầu đậu nành, dầu olive, dầu mè

4. Rau, trái cây tươi bệnh nhân tiểu đường cần ăn như nào?

     Một ngày bệnh nhân tiểu đường (đái đường) nên ăn khoảng 400 gram rau và trái cây tươi, rau quả tươi vừa có tác dụng chống lão hóa, vừa là thức ăn bổ sung vitamin, muối khoáng tốt nhất. Nên ăn cả xác hơn là ép lấy nước uống, chất xơ ở rau quả là thành phần quan trọng làm giảm đường, làm chậm hấp thu đường và đỡ tăng đường sau khi ăn. Tuy nhiên, không phải loại trái cây nào cũng tốt, người mắc bệnh tiểu đườngphải tránh các loại trái cây ngọt như nho, xoài, na, nhãn…

5. Chất ngọt người tiểu đường nên ăn như nào?

      Chất ngọt là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh đái tháo đường, nó làm trầm trọng thêm quá trình bệnh lý, tăng các biến chứng nặng nề của bệnh. Lời khuyên của bác sĩ là tránh xa tuyệt đối các loại bánh kẹo, nước ngọt có ga, rượu… Bệnh nhân tiểu đườngnên sử dụng các chất ngọt nhân tạo có thể thay đường trong nước uống như Aspartam và sacharine vừa giúp làm giảm lượng đường ăn vào mà vẫn giữ được ngon miệng.
Giữ vững thành phần và thời gian ăn là quan trọng, kết hợp với thể dục thể thao thường xuyên chính là phương pháp điều trị bệnh hiệu quả nhất. Tuy nhiên, chế độ ăn cụ thể phải dựa trên từng bệnh nhân, cân nặng, lượng đường trong máu, bệnh đã có các biến chứng hay chưa. Do vậy cần tham khảo ý kiến của bác sĩ đang theo dõi và điều trị.

Bệnh tiểu đường nên ăn kiêng như thế nào?

     -Thực phẩm cấm: Đường, mía, tất cả các loại sữa chế biến, cà phê, kẹo, đá chanh, trái cây đóng hộp, nước quả ép, kẹo, mứt, chè, mỡ.

    -Thực phẩm hạn chế: Cơm, mì xào, hủ tiếu, bánh canh, bánh mì, các loại khoai (khoai lang, khoai mì…), bánh bích qui, trái cây ngọt.

       -Thực phẩm không hạn chế: Thịt, tôm, cá, cua, mắm, rau, tất cả các loại đậu.

Các thực phẩm như trái cây (nhất là lê, táo), rau, đậu, ngũ cốc có thể cung cấp cho cơ thể một lượng đường chậm (tức đường phải qua quá trình tiêu hóa mới trở thành đường hấp thu vào cơ thể) điều đó sẽ giúp cho lượng đường trong máu không quá cao hoặc quá thấp đồng thời cung cấp chất xơ có ích và chất khoáng chứa vcom kiểm soát lượng đường trong máu.

Ở bệnh nhân tiểu đường, đường huyết thường tăng cao sau bữa ăn.       Vì thế nên cho bệnh nhân ăn nhiều lần và phân bố lượng calo mỗi bữa cho thích hợp.

      Nếu cần:- 1200-1600 Kcalo/ngày thì nên chia ba bữa theo tỉ lệ 1/3 – 1/3 – 1/3

     -2000-2500 Kcalo/ngày thì nên chia bốn bữa theo tỉ lệ 2/7 – 2/7 – 2/7 – 1/7

     -Trên 2500 Kcalo/ngày thì nên chia năm bữa theo tỉ lệ 2/9 – 2/9 – 2/9 – 2/9 – 1/9

     Trường hợp đang dùng thuốc hạ đường huyết thì nên ăn trước khi ngủ hay thêm bữa vào những bữa ăn chính.

     Các thực phẩm giàu chất xơ sẽ làm giảm đỉnh cao đường huyết sau khi ăn và có thể kéo dài sự hấp thu của chất đường. Chất xơ cũng còn có tác dụng giữ nước, hấp thu axit mật, thường có trong cám ngũ cốc, khoai tây, rau xanh, trái cây nhất là các loại họ đậu.

    Vì thế người ta khuyên nên ăn gạo không chà kỹ quá. Nên hạn chế rượu vì rượu có thể thúc đẩy hạ đường huyết trên bệnh nhân đang điều trị với thuốc hạ đường huyết.

Ngày đăng

Châm cứu là gì?

  Có tuổi đời hơn 3000 năm, châm cứu đã xuất hiện từ rất lâu trong nền Y học cổ truyền phương Đông nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Phương pháp này mang lại hiệu quả cao trong việc chữa trị nhiều chứng bệnh khác nhau. Tại Phòng khám Y học cổ truyền Lâm Dương Đường, châm cứu được áp dụng kết hợp với một số kỹ thuật trị liệu bảo tồn nhằm đạt tỷ lệ thành công cao khi điều trị một số bệnh lý về thần kinh cột sống, cơ xương khớp.

PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU LÀ GÌ?

       Châm cứu là kỹ thuật sử dụng một loại kim châm nhỏ và mỏng để châm vào các điểm huyệt trên cơ thể. Đây là phương pháp không thể thiếu trong Y học cổ truyền phương Đông, có thể hỗ trợ điều trị hiệu quả nhiều chứng bệnh khác nhau, trong đó có một số bệnh lý về thần kinh cột sống, cơ xương khớp.

       Nguyên lý để thực hiện châm cứu là dựa vào hoạt động của khí và mạch trong cơ thể, tạo sự hài hòa Âm – Dương bằng cách khai thông khí huyết và khôi phục cân bằng khí. Lúc này, cơ thể sẽ được kích thích để tạo ra các phản ứng tự nhiên, giúp một số tổn thương trong cơ thể tự hồi phục mà không cần đến tác động từ bên ngoài.

       – Âm: nền tảng vật chất, thụ động, tính mát – lạnh…

       – Dương: năng lực hoạt động, chủ động, tính ấm – nóng…

       Khi âm và dương mất cân bằng, cơ thể sẽ bị giảm khả năng chống đỡ với bệnh tật, kinh – mạch (hệ thống các đường dẫn năng lượng, chất dinh dưỡng, dịch thể nối liền giữa các cơ quan và bộ phận của cơ thể với nhau) bị tắc nghẽn và bệnh sẽ phát sinh.

       Châm cứu giúp phục hồi lại sự tuần hoàn tốt của hệ kinh – mạch và tăng khả năng phòng vệ của cơ thể (sức đề kháng) nên có thể phòng và trị được bệnh.

      Ngoài ra, theo một số giải thích khác về châm cứu của các nhà khoa học, họ cho rằng khi châm vào các điểm huyệt sẽ kích thích cơ thể sản sinh ra một lượng hormone endorphin – được xem là “liều thuốc giảm đau tự nhiên của cơ thể”, kích thích lưu thông máu hiệu quả, từ đó điều chỉnh và thay đổi hoạt động của não bộ.

       Tại phòng khám Y học cổ truyền Lâm Dương Đường quý khách sẽ được thầy thuốc của Lâm Dương Đường có chuyên môn cao tay nghề vững vàng tiến hành châm cứu để phòng – trị bệnh cho quý khách một cách chuyên nghiệp và hiệu quả nhất.

       – Châm: dùng kim xuyên qua da của một vùng cơ thể nhất định, gọi là huyệt.

       – Cứu: dùng là khô của cây Ngãi cứu (Artemisia vulgaris L.) đốt lên để hơ nóng trên huyệt.

      Có nhiều loại hình châm cứu

       Hiện nay có nhiều trường phái châm cứu được sử dụng phổ biến như:

      – Thể châm (châm các các huyệt trên cơ thể)

      – Nhĩ châm (châm các huyệt trên loa tai)

      – Diện châm (châm hoặc ấn các huyệt trên mặt)

      – Túc châm, thủ châm, tỵ châm,…

    – Châm tê (phát triển mạnh ở các tỉnh, thành miền Bắc), trường châm, mãng châm, chôn chỉ…

      

Hotline: 02053.895.555 – 0912.468.505 – 0967.76.11.33

Ngày đăng

XÔNG HƠI THUỐC BẮC

XÔNG HƠI THUỐC BẮC

 

        Với chiếc phòng xông hơi bằng hệ thống điện tử tự động hoá tiến tiến, cải tiến từ kỹ thuật xông hơi bằng nồi thuốc trùm chăn của các cụ xa xưa. Kết hợp với bài thuốc độc quyền của thầy thuốc Triều Dương. Được vận dụng tinh tế trong kỹ thuật trị liệu. Phương pháp Xông hơi trị liệu dần dần đã là chiến binh tinh nhuệ của Phòng khám. Giúp điều trị hiệu quả và thành công rất cao nhiều nguyên nhân, triệu chứng vô cùng lý thú trên thân thể người bệnh. Với thời gian xông 30 phút, nhiệt độ ổn định 40 – 50 độ cảm biến trong phòng xông sẽ làm nhân tố đẩy các chất độc tố trong cơ thể qua lỗ chân lông, tuyến mồ hôi, hơi thở, rồi hấp thu ngược lại những dược chất quý hiếm và tốt trong cốc chén thuốc bắc xông. Đảm bảo cho quý vị khách hàng bệnh nhân cảm thụ được đầy đủ và tuyệt vời nhất với kỹ thuật tuyệt hảo có từ ngàn năm.

       Phương pháp có Tác dụng điều trị và chăm sóc: Giảm đau đầu. Chống suy nhược cơ thể. Khai thông khí huyết. Điều trị cảm củm, sổ mũi, nhức đầu (Khi mang thai). Giải độc do say rượu. Cơ thể mệt mỏi, đau nhức.